19/2/09

Nhà báo hiện đại - Nghề báo mới


Những người sáng lập nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã sớm nhận ra báo chí là điều tối cần thiết cho một nền dân chủ lành mạnh. Đó là lý do tại sao họ đã thêm vào quyền tự do của báo chí song song với quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng và hội họp vào Hiến pháp nước này.
Hai trăm năm sau, một số nhà báo sâu sắc nhất của nước này lại nhận ra rằng một nền dân chủ lành mạnh là điều tối cần thiết cho báo chí. Nhận thức đó đã tạo nên một trong những bước phát triển quan trọng nhất và gây nhiều tranh cãi nhất để định hình nền báo chí Mỹ trong thời khắc chuyển giao sang thế kỷ mới.
Được gọi là “báo chí cộng đồng” hay là “báo chí công dân”, trào lưu làm báo mới này dựa trên hai ý tưởng: Thứ nhất, nền dân chủ không được thực thi tốt như lẽ ra nó phải thế. Thứ hai, những nhà báo có trách nhiệm phải cố gắng làm gì đó để cải thiện tình trạng này. Ít có nhà quan sát chính trị nào sẽ phản bác quan điểm đầu tiên. Một số học giả thậm chí đưa ra kết luận rằng chúng ta đang mất dần ý thức cộng đồng cơ bản. Tuy nhiên, quan điểm thứ hai đánh thẳng vào kiểu làm báo trung lập truyền thống, với thái độ cách biệt của phóng viên với những sự kiện mà họ tường thuật. Jay Rosen, một lý thuyết gia hàng đầu về nền báo chí công dân, đã đưa ra một loạt so sánh về những niềm tin trái ngược nhau của các nhà báo truyền thống và nhà báo cộng đồng. Đây là hai điều minh họa cho sự cách biệt đó:
Nhà báo cộng đồng tin rằng: Đời sống công chúng sẽ tạo ra tác động, và báo chí có vai trò tác động công chúng để tạo ra tác động.
Nhà báo truyền thống tin rằng: Nếu đời sống công chúng sẽ tạo ra tác động thì cũng tốt, nhưng vai trò của chúng ta không phải là tác động công chúng và thật nguy hiểm khi nghĩ rằng chúng ta có thể làm điều đó.
Nhà báo cộng đồng tin rằng: Nhiều thứ cơ bản phải thay đổi, bởi vì nền báo chí bây giờ không có hiệu quả.
Nhà báo truyền thống tin rằng: Các truyền thống báo chí đã tốt lắm rồi, nếu có điều gì cần phải cải thiện thì đó chính là cách hành nghề.
Một nhà báo, người được đa số tôn vinh – hay buộc tội – vì đã đưa những nguyên tắc trên ra thực hiện, là Davis “Buzz” Merritt, sau này trở thành chủ bút tờ The Wichita Eagle ở Kansas. Merritt ngán ngẩm chất lượng nghiệp vụ lộ rõ trên tờ báo của mình cũng như những tờ khác trong suốt cuộc bầu cử năm 1988. Ông lo lắng khi thấy báo chí ở Wichita và khắp đất nước thiếu hẳn sự quan tâm và can dự vào đời sống công chúng. Vì thế, ông bắt đầu một loạt thử nghiệm báo chí mà sau này thành nền móng cho cả một trào lưu.
Bắt đầu từ năm 1989, những nhà báo ở Wichita – và không lâu sau đó là hàng chục thành phố khác trên khắp nước Mỹ – đã làm những cuộc thăm dò để xem đâu là những vấn đề mà công dân cho rằng các cuộc vận động tranh cử nên đề ra, chứ không cho phép các ứng cử viên áp đặt ý kiến trong những cuộc tranh luận công khai nữa. Họ đã tài trợ tổ chức những diễn đàn công cộng để thảo luận nhiều vấn đề từ chính trị cho đến chủng tộc. Thậm chí có nhiều trường hợp họ còn phân công hoặc tuyển thêm phóng viên để giúp các công dân công kích đủ loại vấn đề ở địa phương. Các tổ chức phi lợi nhuận như Pew, Kettering và Knight đã đóng góp tiền bạc và trợ giúp về mặt chuyên môn. Nghiên cứu đã cho thấy nhiều dự án báo chí công dân dường như đã làm thay đổi thái độ của mọi người đối với đời sống cộng đồng và đối với các tổ chức báo chí.
Phái chỉ trích, trong đó có chủ bút của các tờ báo hàng đầu như The Washington Post và The New York Times, lo ngại rằng những nhà báo cộng đồng sẽ giành được sự ủng hộ nhưng có thể lại mất đi một điều còn quan trọng hơn – sự độc lập. Theo họ, cơ quan báo chí không thể vừa đá bóng vừa thổi còi. Nhà báo chỉ nên đóng vai trò trọng tài. Khi một tờ báo tổ chức một cuộc thảo luận công khai, thay vì chỉ tường thuật lại một cuộc thảo luận được tổ chức bởi các cơ quan khác, thì báo chí đã trở thành cầu thủ trong trận bóng trong khi chỉ nên làm người cầm còi quan sát từ xa. Khi những nhà báo hỏi xem công dân muốn biết điều gì, thay vì cho họ biết những gì mà nhà báo nghĩ rằng họ cần biết, báo chí đã đánh mất chức năng giáo dục và trở thành kẻ phục tùng.
Những tranh cãi và những thử nghiệm dường như vẫn đang tiếp diễn. Sự bất đồng đó bản thân nó cũng đã minh họa cho giá trị của sự tự do.
Dĩ nhiên không có gì mới về chuyện các nhà báo xem xét lại việc làm của mình. Chẳng hạn như trong những năm 1960, các nhà báo bắt đầu phải học theo dõi tin tức từ những phong trào xã hội và chính trị đang làm biến đổi đời sống ở Mỹ. Có lẽ đầu tiên là phong trào đòi quyền công dân. Sau đó lại xuất hiện nhiều lực lượng mạnh mẽ của phụ nữ, thanh niên, người tiêu dùng, người bảo vệ môi trường, người đồng tính và nhiều thành phần khác. Chủ trương và cách làm của mỗi phong trào không giống nhau, nhưng nhìn chung chúng đã bắt các nhà báo phải từ bỏ niềm tin cậy cố hữu vào những nguồn tin chính thống từ các quan chức đắc cử, giới quan liêu trong chính quyền và những nhà lãnh đạo kinh tế. Martin Luther King Jr., Gloria Steinem, Ralph Nader, Cesar Chavez, Barry Commoner – không ai trong số họ làm chính trị hay giữ một vị trí quyền lực kinh tế nào, nhưng họ và hàng chục người như họ đã thu hút được sự chú ý và những dòng tít lớn của báo chí Mỹ. Những nhà báo phải học cách tìm kiếm, đối phó và đánh giá những nhân vật tạo thời cuộc, những người không hề có cái mác “quan chức” truyền thống và những người nhiều khi hết sức ngờ vực các nhà báo chính thống.
Rồi bạn sẽ phải làm những việc giống như vậy. Bạn không thể theo dõi hết những mối quan hệ chỉ bằng việc phỏng vấn ông thị trưởng (dĩ nhiên, trừ phi bạn viết về mối quan hệ của chính nhân vật đó, nhưng đó lại là chuyện khác). Bạn sẽ không thể hình dung được các trung tâm mua sắm nếu chỉ nói chuyện với người phụ trách báo chí của Bộ Thương mại. Để dò được những cách làm mới tin tức, phóng viên phải rút tỉa từ những mối quan tâm rộng rãi và từ nền tảng kiến thức bao quát.
Những nhà báo của thế kỷ 21 cần phải hiểu biết nhiều hơn thế hệ trước về nhiều vấn đề ngày càng gia tăng, bao gồm sinh vật học (AIDS chưa thể chữa được), xã hội học (những tộc người thiểu số đang trở thành đa số), thống kê học (thế giới quanh ta là thế giới định lượng) và những kiến thức khác giúp lý giải được cái thế giới ngày càng phức tạp và tương quan chặt chẽ. Bạn mới chỉ bắt đầu một tiến trình học hỏi thôi, nếu bạn thật sự xem nghề báo là sự nghiệp, thì bạn phải đeo đuổi việc học đó không ngừng.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

Nhà báo hiện đại - Công chúng mới


Công chúng đó là ai? New Directions for News – một nhóm chuyên gia về nhật báo – đã làm một cuộc điều tra mới mẻ và khám phá ra cái gọi là “nước Mỹ mới”. Dân số của nước Mỹ mới sẽ gồm có:
* 51% là phụ nữ
* 30% là những người trẻ tuổi, từ 18 đến 34 tuổi
* 25% người dân tộc thiểu số và các nhóm dân nhập cư
* 21% người trên 50 tuổi
* 15% người từ 5 đến 17 tuổi
Công ty Gannett, nơi đã xuất bản hơn 100 tờ báo, thiết lập một nhóm chuyên trách để tạo ra một tờ báo kiểu mẫu sẽ hấp dẫn những độc giả thế kỷ 21. Tin tức viết cho lớp độc giả mới, theo báo cáo của nhóm này, phải có những tính chất sau:
Hình thức bắt mắt: Tờ báo phải nhiều màu sắc, hấp dẫn, sinh động, thỏa mãn mắt người xem cũng như thách thức trí óc họ hoạt động.
Thông tin dày đặc nhiều tầng nhiều lớp: Những cột văn bản không đủ. Đồ thị, hình ảnh, biểu đồ, danh sách và phần tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau sẽ thỏa mãn được những bạn đọc đói tin tức bổ ích mà lại bị áp lực về thời gian.
Tính tương tác: Cho bạn đọc biết cách cùng tham dự vào tờ báo, cách phản hồi tin tức, cách liên hệ với chuyên gia, với độc giả khác hay với chính tờ báo.
Tính liên quan: Cho những độc giả hoài nghi thấy tin tức thiết thực với họ như thế nào. Đưa những con người gần gũi với độc giả vào bài báo của bạn. Thuật lại tác động và tầm quan trọng của tin tức.
Tính đa dạng: Xã hội có nhiều mặt hơn là những gì tin tức phản ánh. Hãy chắc rằng bạn bao quát được toàn bộ cộng đồng.
Ngoài những nội dung chuẩn mực của tin tức địa phương và thế giới, nhóm chuyên trách này đã đề xuất những chủ đề có thể giúp người đọc trong đời sống hằng ngày – bao gồm tin tức về mua sắm và tiêu dùng, về Internet và kỹ thuật, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình, sự hòa hợp giữa tâm hồn và cơ thể, và tạo ra được những cộng đồng.
Richard Saul Wurman viết một cuốn sách mà mọi nhà báo nên đọc đi đọc lại – cuốn Information Anxiety (Mối lo thông tin). Trong đó, Wurman nói rằng hầu hết tin tức có thể chia ra thành ba loại: tin mang lại hy vọng, tin về những chuyện lạ lùng tới mức vô lý và tin về các thảm họa. Nhà báo nói chung hay nhấn mạnh đến những chuyện lạ lùng và thảm họa, còn người đọc thì lại đói niềm hy vọng. Bạn sẽ thấy rằng tờ báo kiểu mẫu nói trên sẽ mang đến nhiều tin tức lạc quan hơn so với những gì mà báo chí hay những chương trình thời sự truyền thống thường cung cấp. Làm báo theo kiểu này còn được gọi là “báo chí giải pháp” (solution journalism). Thay vì chỉ vạch rõ những vấn đề của chúng ta – điều có thể sẽ làm tăng thêm cảm giác cách biệt và tuyệt vọng – các nhà báo có thể xác định những giải pháp khả dĩ giải quyết những vấn đề đó, cung cấp những ví dụ về những giải pháp và nói cho độc giả biết có thể tìm hiểu thêm thông tin ở đâu hay làm thế nào để tham dự vào.
Wurman còn nêu ra một điều khác mà các nhà báo bây giờ mới bắt đầu hiểu ra: Thông tin không thôi chưa phải là sản phẩm có giá nhất. Sự cảm thông là điều thiết yếu để truyền thông có hiệu quả. Khi nhà báo tập trung tường thuật những vấn đề có liên quan và hữu ích thì rất có thể họ đã chuyển tải được sự cảm thông. Không có điều đó, độc giả sẽ bị trôi dạt và có khi bị chết đuối giữa biển thông tin ngày càng thăm thẳm.

THE MISSOURI GROUP biên soạn

Nhà báo hiện đại - Công chúng thay đổi, báo chí thay đổi


Người phán quyết tối hậu cái gì là quan trọng và câu chuyện nào đáng được thuật lại chính là những người tiêu thụ báo chí, là công chúng. Công chúng đang thay đổi, và điều đó đòi hỏi những nhà báo cũng phải thay đổi.
Một trong những điểm mới quan trọng mà báo trực tuyến dành cho bạn – độc giả – là khả năng cho phép bạn chọn lựa thông tin ở đâu và khi nào bạn muốn. Với một máy tính và một cổng vào Internet, bạn không phải chờ đợi bản tin buổi tối trên tivi hay khi phát hành tờ tin buổi sáng. Bạn có thể truy cập các nguồn tin trên mạng bất kể giờ nào dù ngày hay đêm. Bạn có thể tìm hiểu cặn kẽ các chi tiết và đi sâu vào vấn đề chừng nào bạn muốn, hoặc bạn có thể chọn cách bỏ qua tất thảy ngoài những chủ đề khái quát. Loại hình truyền thông dựa vào máy tính, nói cách khác, đã để cho người đọc tự đảm trách thông tin. Bạn sẽ hiểu rõ hơn vấn đề này ở chương 2. Còn bây giờ hãy chú ý đến độc giả và những gì họ cần và họ muốn.
Hội Chủ bút nhật báo Mỹ (American Society of Newspaper Editors) đã bảo trợ cho một đề án nghiên cứu với ý định thiết lập một tờ báo của thế kỷ 21. Đây là bản tóm tắt những gì các nhà nghiên cứu kết luận về những đòi hỏi và nhu cầu của độc giả:
* Độc giả muốn có nhiều thông tin trong tờ báo của họ.
* Độc giả muốn tin tức phải có liên quan và tập trung vào họ và cộng đồng quanh họ.
* Độc giả không muốn báo của họ phớt lờ những gì đang diễn ra ở nơi khác trong nước và trên thế giới.
* Độc giả không bị lừa phỉnh bởi những mánh lới quảng cáo hay cách trình bày bay bướm. Họ chỉ chấp nhận chúng khi nào chúng có vẻ liên quan đến bài viết, làm cho bài báo dễ “nuốt” hay làm cho thông tin dễ hiểu hơn. Nếu những mánh lới câu khách đó quá lộ liễu hay cách trình bày quá khác lạ, người đọc sẽ vứt bỏ chúng vì đã làm họ không được thoải mái khi đọc báo.
* Độc giả muốn những tin tức thiết thực và hữu ích để giúp họ hoàn thiện cuộc sống. Họ cần những mẹo vặt và những lời khuyên. Vì lối sống của độc giả thay đổi, các chủ bút phải tạo ra những tờ báo đi sâu vào đời sống.
Chỉ cần thay đổi từ ngữ một tí, danh sách những đòi hỏi và nhu cầu này cũng có thể áp dụng cho khán thính giả của phát thanh - truyền hình. Chính sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt để tăng thời lượng phát sóng và lôi kéo sự chú ý của khán giả mà nghiệp vụ phát thanh - truyền hình cũng buộc phải không ngừng thay đổi cho phù hợp với nhu cầu không ngừng thay đổi của những đối tượng công chúng cũng không ngừng thay đổi. Hãy thử xem trong một khoảnh khắc có bao nhiêu là nguồn thông tin và giải trí đến với bạn. Đó là báo in, dĩ nhiên rồi. Đó là tạp chí và sách. Đó là hàng tá kênh truyền hình cáp. Và trên Internet, có biết bao trang web đan cài vào nhau trên khắp thế giới để ta khám phá.
Những người làm báo theo lối cũ là những người gác cửa thông tin, lựa chọn từ nhiều nguồn tin phức tạp, vứt bỏ nhiều và chỉ cho một số được xuất hiện trên trang báo và màn ảnh. Những nhà báo của thế kỷ 21 là những hoa tiêu lão luyện. Họ sẽ tiếp tục tổ chức và lý giải thông tin, nhưng công chúng của họ sẽ trông đợi và đòi hỏi nhiều hơn là những gì chỉ để cho vừa trang báo hay màn ảnh nhỏ. Người ta bị áp lực về mặt thời gian nên không thể lãng phí cho những thông tin không liên quan hay không hữu ích. Và khi họ cần biết nhiều hơn, họ phải được biết ngay lập tức. Thế là nhà báo phải rút tỉa từ nhiều nguồn tin, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu trên máy tính và các nguồn tham khảo trên Internet cho công việc của họ, và chỉ đường dẫn lối cho độc giả và người xem cùng đồng hành.
Khi xem xét những nguồn tin rộng khắp hiện nay, bạn thấy nhà báo thời nay đang đứng ở vị trí của những thủy thủ 500 năm trước – đứng bên lề của những điều chưa biết. Cũng như những hoa tiêu thời ấy phải vạch ra đường đi để dẫn lối cho những ai ít phiêu lưu hơn, các nhà báo phải tìm hiểu về các xa lộ thông tin và những ngõ ngách thông tin, rồi dẫn độc giả đến các thông tin mà họ cần.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

NHÀ BÁO HIỆN ĐẠI - Tin tức là gì



Tiêu chí mà các biên tập viên và phóng viên chuyên nghiệp dùng để xác định tin tức là gì có thể được tóm gọn lại như sau: Có liên quan, hữu ích, gây được sự quan tâm.
Những tiêu chí đó được áp dụng rộng rãi nhưng mỗi nhà báo hay mỗi cơ quan báo chí đều sử dụng chúng theo một bối cảnh đặc thù để nhấn mạnh ý nghĩa theo cách riêng. Cái bối cảnh ấy do chính công chúng tạo ra.
Hãy xét ví dụ sau:
Con số thống kê mới nhất cho thấy Hạt Boone là một trong những khu vực gia tăng dân số nhanh nhất của bang. Một diễn đàn công cộng vào tối thứ Ba sẽ cho bạn cơ hội được bày tỏ quan điểm về cách định hướng tình trạng gia tăng đó.
Diễn đàn này, buổi đầu tiên trong một loạt do Ủy ban Hạt bảo trợ, sẽ phát động một tiến trình “nhìn về tương lai” nhằm chia sẻ những quan điểm đối với tương lai của Hạt. Đó là ý tưởng của bà Ủy viên Hội đồng Karen Miller, người đã giải thích ý tưởng của mình như sau: “Chúng ta hoặc là để cho dân số gia tăng rồi sau đó mới có phản ứng, hoặc là nói lên quan điểm về một tương lai mong muốn cho Hạt của chúng ta và sau đó nỗ lực để đạt được điều đó”
Những quan chức khác của Hạt không tin ý tưởng này là cách sử dụng thời gian và tiền bạc thật khôn ngoan. “Tôi chưa từng nghe một ý kiến nào lập dị như vậy,” – Thư ký Hạt Biff Barner, người đối lập với Miller trong cuộc tái bầu cử nói mỉa – “Karen chắc là đi trước thời đại”.
Bị Miller thuyết phục, bất chấp những chỉ trích từ phía Barner và những người khác, Ủy ban đã thuê những nhà tư vấn để dẫn dắt các cuộc đối thoại với công chúng và sau đó sẽ tổng hợp những đề xuất liên quan đến chính sách dựa trên ý kiến của công dân. Những đề xuất này sẽ được Ủy ban thảo luận trong những diễn đàn sắp tới trước khi thực thi bất kỳ hành động nào.
Diễn đàn “nhìn về tương lai” đầu tiên sẽ diễn ra lúc 7 giờ chiều thứ Ba tại văn phòng Ủy ban ở Trung tâm hành chính Hạt.
Hãy xem xét giá trị của bài báo này đối với độc giả. Tính liên quan là hiển nhiên. Tương lai cho cộng đồng là việc cần phải làm. Công chúng được một cơ hội để góp phần định hướng tương lai đó. Bài báo này hữu ích bởi vì nó thảo luận những vấn đề quan trọng và bởi vì nó xuất hiện trước khi có những diễn đàn công khai. Loại bài báo này mang đến cho độc giả thông tin cần thiết và kịp thời để họ có thể tham gia vào quá trình quyết nghị nếu họ muốn. Bài báo gây được quan tâm nhờ sự liên quan và hữu ích của nó.
Bạn đang đọc một bài báo đăng trên báo in. Trên truyền hình, một bài viết như thế sẽ có ít chi tiết hơn, nhưng bạn sẽ nhìn thấy đoạn băng quay cảnh những nhân vật chính đang tranh luận. Còn ở báo trực tuyến, một bài báo như thế sẽ bao gồm cả chi tiết và đoạn phim – cộng thêm sự kết nối dễ dàng đến những bài báo liên quan và những tư liệu đằng sau vụ việc. Cách trình bày sẽ khác nhau ở mỗi loại hình, nhưng những giá trị của tin tức đã làm cho nó trở nên quan trọng và kỹ năng tường thuật sự việc cũng như những yêu cầu kể lại câu chuyện sẽ có sự giống nhau. Những chương sau sẽ giúp bạn học được những kỹ năng đó. Còn bây giờ, hãy xem xét những giá trị của tin tức ở tầm sâu hơn chút nữa, về những tiêu chí nhà báo dùng để xác định câu chuyện nào xứng đáng được thuật lại.
Sự liên quan, hữu ích và gây được quan tâm là những định hướng khái quát để thẩm định giá trị thông tin của bất kỳ sự kiện, vấn đề hay nhân vật nào. Cùng với những tiêu chí rõ ràng đó, nhà báo còn tìm kiếm những yếu tố đặc trưng hơn tiềm tàng trong mỗi câu chuyện. Quan trọng nhất là những yếu tố sau:
Tác động – Đây là một cách khác để đo mức độ liên quan và hữu ích. Có bao nhiêu người bị ảnh hưởng bởi một sự kiện hay một ý tưởng? Nó ảnh hưởng đến họ nghiêm trọng như thế nào?
Xung đột – Đây là một đề tài muôn thuở trong mọi câu chuyện, dù được thuật lại bởi báo chí, văn chương hay kịch nghệ. Những cuộc đấu tranh giữa người với người, giữa các quốc gia hay với sức mạnh thiên nhiên đều lôi cuốn người ta đọc. Xung đột chính là một yếu tố cơ bản của đời sống, các nhà báo phải tỉnh táo trước cám dỗ muốn làm cho câu chuyện tăng thêm kịch tính hoặc đơn giản hóa thái quá.
Mới lạ – Đây là một yếu tố khác phổ biến cả trong báo chí lẫn các loại hình khác. Con người hay sự kiện có thể gây được hấp dẫn và do đó có giá trị thông tin chỉ vì yếu tố đặc biệt hay kỳ quái.
Danh tiếng – Tên tuổi tạo nên tin tức. Tên tuổi càng lớn chừng nào thì bài báo càng quan trọng chừng đó. Những người dân thường luôn bị kích thích tò mò bởi việc làm của những người giàu có và nổi tiếng.
Gần gũi – Thông thường, người ta thích thú và quan tâm đến những gì diễn ra gần nơi họ ở. Khi họ đọc hay nghe một tin trong nước hay tin thế giới, họ thường muốn biết nó có liên can gì đến cộng đồng của chính họ.
Cấp thời – Tin đòi hỏi phải mới. Nếu tin thích đáng và hữu ích, nó hẳn phải đúng lúc. Ví dụ như khi viết về một vấn đề mà hội đồng thành phố phải đối mặt trước khi nó được quyết định thì sẽ có ích hơn là sau đấy. Những bài báo kịp thời cho người ta cơ hội được tham dự vào các vụ việc chung hơn là chỉ làm một khán giả.
Lưu ý rằng những yếu tố trên gợi ra hai điều quan trọng về tin. Thứ nhất, không phải mọi tin tức đều nghiêm túc, đều là chuyện sống chết. Nghề báo được miêu tả như “cuộc đối thoại của văn hóa với chính nó”. Cuộc đối thoại đó gắn kết thành nền văn hóa từ những chuyện kể về tội ác, chính trị cho tới các sự kiện trên thế giới, tất nhiên rồi; nhưng nó cũng bao gồm những câu chuyện của đời sống hằng ngày. Nó bao gồm cả những chuyện khôi hài và chuyện tầm phào. Tất cả những điều đó đều có thể là tin tức. Thứ hai, tin tức không chỉ là việc góp nhặt lại sự kiện. Thuật lại một tin thường cũng có nghĩa là kể lại một câu chuyện. Tính tường thuật, tính nhân văn, kịch tính của câu chuyện là nghệ thuật của báo chí. Để tập hợp những sự kiện trong bài viết của mình, nhà báo sử dụng nhiều kỹ thuật giống như những kỹ thuật mà nhà xã hội học, nhà khoa học chính trị và nhà sử học sử dụng. Để viết bài báo cho ai cũng hiểu được sự kiện trong đó, nhà báo thường sử dụng kỹ thuật của những người cầm bút khác như nhà văn hay nhà biên kịch.

THE MISSOURI GROUP biên soạn

NHÀ BÁO HIỆN ĐẠI - Nghề báo và nhà báo





Tin tức trong thế kỷ 21 không còn giống như trước. Ngay cả cách thu thập thông tin cũng khác. Chúng ta đang tham dự một cuộc họp lúc 10h sáng tại tòa soạn tờ Sarasota Herald-Tribune. Tổng biên tập Janet Weaver chủ trì cuộc họp.
Như hầu hết các buổi họp tòa soạn, cuộc họp này mang tính thân mật – các biên tập viên bỡn cợt hay chế nhạo việc làm của nhau khi họ thảo luận về những công việc nghiêm túc trong ngày. Khi ai đó đề cập đến một tin địa phương quan trọng, người quản trị website phụ trách báo điện tử yêu cầu được cung cấp những tài liệu thiết yếu sẽ được đưa đến với độc giả qua mạng chứ không được xuất bản trên báo in.
Cách đó vài bước trong phòng tòa soạn, phóng viên điều tra Tom Bayles không vui lắm. Anh sắp hoàn tất một dự án kéo dài nhiều năm – điều tra về một vấn đề nghiêm trọng ở Florida – tình trạng xâm thực bờ biển và những nỗ lực tốn kém để khắc phục. Công việc cho nhật báo của anh coi như xong, nhưng anh vẫn phải tổng hợp phần tư liệu bổ sung cho bài viết trên mạng. Tuy nhiên, vấn đề thật sự của anh là một chuyên mục truyền hình sẽ phát qua hệ thống truyền hình cáp của Herald-Tribune suốt ba ngày loạt bài này được đăng tải. Anh tiếc là đã bỏ lỡ hai ngày tập huấn về những kỹ năng truyền hình cơ bản mà tờ báo thường tổ chức cho khối nhân sự báo in. May sao, cứu tinh đã ở cạnh bên. Phòng tòa soạn của ban truyền hình nằm ở gian đối diện bàn làm việc của anh.
Trên đường ra khỏi phòng tòa soạn, chúng tôi gặp cô Jill Obrecht Barton, tốt nghiệp trường báo chí được hai năm và bây giờ đang phụ trách mảng giáo dục cho Herald-Tribune. Jill cảm thấy đã chuẩn bị tốt cho công việc mới, nhưng cũng nói thêm: “Nếu được làm lại từ đầu, tôi sẽ học môn Truyền hình Căn bản ở trường”.
Những gì chúng ta bắt gặp ở Sarasota chính là mô hình của một tòa soạn hội tụ (convergence newsroom) hay còn gọi “tòa soạn tích hợp”. Đó là nơi gặp gỡ của các loại hình truyền thông trong cùng một tòa soạn, thậm chí trong cùng một nhà báo, để tận dụng những sức mạnh khác nhau của cả báo in, báo hình lẫn báo mạng. Mô hình tòa soạn hội tụ đã làm thay đổi cách nhà báo tường thuật và cách độc giả tiếp nhận tin tức. Janet Weaver lý giải tầm quan trọng của sự hội tụ một cách đơn giản: chỉ báo in không thôi, Herald-Tribune đến tay 50% số người sống trong và ngoài Sarasota. Cộng thêm báo mạng và kênh truyền hình, và nó vươn ra đến 90%. Khát vọng của bà là đạt đến số lượng độc giả tối đa cho tờ báo của mình.
Dù làm báo bằng niềm đam mê hay chỉ vì lợi nhuận, những tòa soạn riêng rẽ và những tập đoàn truyền thông khổng lồ đang hội tụ lại với nhau. NBC và Microsoft, AOL và Time Warner (bản thân đã là sản phẩm của nhiều loại hình truyền thông sáp nhập thành) đang vượt qua những rào cản truyền thống để cung cấp thông tin trên cả báo in, truyền hình và báo trực tuyến. Những phóng viên mới vào nghề như Jill Barton hay những người kỳ cựu như Tom Bayles đều phải học cách làm tin mới và đối mặt với những sức ép mới trong việc truyền thông đa phương tiện. Nghề báo ở thế kỷ 21 buộc các nhà báo phải liên tục thay đổi chính mình.
Ngay cả bản thân tin tức cũng đang thay đổi. Báo chí, phát thanh và truyền hình – đôi khi làm việc cùng nhau – ngày càng trở thành những người tham gia lẫn người quan sát những vấn đề của công chúng. Phong trào có tên gọi “báo chí công dân” (civic journalism) hay “báo chí cộng đồng” (public journalism) ở Mỹ chính là để hưởng ứng quan điểm thừa nhận rằng báo chí và nền dân chủ phải kết hợp với nhau thì cả hai mới cùng tồn tại. “Những nhà báo công dân” tìm mọi cách để giúp đỡ cho nền dân chủ được thực thi hơn là chỉ đứng đằng sau và tường thuật những thất bại của nó. Không phải tất cả các nhà báo đều đồng tình với triết lý “báo chí công dân”, nhưng hầu như tất cả đều đồng ý rằng vai trò của nhà báo trong thế kỷ 21 sẽ còn tích cực hơn và thậm chí quan trọng hơn hiện nay.
Al Neuharth, người làm thay đổi diện mạo báo chí khi sáng lập tờ USA Today năm 1980, đã đưa ra một viễn cảnh về tin tức kiểu mới như sau: “Tôi tin tưởng và hy vọng rằng báo chí trong tương lai có thể và sẽ mang đến những thông tin hữu dụng – nhưng quan trọng hơn, chúng phải đáng tin cậy – và có chỗ đứng trong đời sống hằng ngày của mọi người, cho dù thông tin nằm ở trong phòng giám đốc hay trong quầy rượu, trong lớp học hay trên cánh cửa cái tủ lạnh”.
Khi được hỏi ông trông đợi tin tức sẽ được cung cấp như thế nào, Neuharth nói: “Tôi nghĩ tương lai của tin tức là ở trên cả báo in, trên truyền hình truyền thống và chắc chắn là trên báo trực tuyến. Đó là sự kết hợp của tất cả những điều nói trên”.
Dẫu có thay đổi, có những điều vẫn giữ như cũ. Thứ nhất là vai trò trung tâm của báo chí trong một xã hội dân chủ. Thứ hai là tầm quan trọng của tính chính xác và sự công bằng khi báo chí giữ vai trò đó. Thứ ba là bạn hay bất cứ ai sẽ trở thành nhà báo phải không ngừng đòi hỏi bản thân phải làm chủ được những kỹ năng cơ bản của việc tường thuật và viết báo – bất kể bạn sử dụng công cụ gì hay bạn đưa tin đến công chúng bằng phương tiện nào.

THE MISSOURI GROUP biên soạn

19/1/09

Văn hóa doanh nhân đến văn hóa doanh nghiệp


PV
Tạp chí Nhà quản lý

Có một số nhận xét cho rằng, phần lớn các doanh nhân Việt Nam ít đọc sách, ít sử dụng email và ít truy cập thông tin trên Internet. Kinh nghiệm về lãnh đạo và quản lý còn quá mỏng. Kiến thức về thị trường quốc tế, về kinh tế của các nước đang phát triển cũng còn sơ sài.

Những doanh nhân nước ngoài đến Việt Nam thường có nhận xét là phần lớn các doanh nhân Việt Nam rất ít để thì giờ của mình cho gia đình và đặc biết là để vui chơi với các con ở lứa tuổi cần sự chăm sóc và tình thương của cả bố lẫn mẹ. Trong lúc đó, ngoài công việc tại cơ quan, họ đã giành quá nhiều thời giờ cho các hoạt động giao tế, vui chơi với bạn bè. Kinh nghiệm ở nước ngoài cho thấy những doanh nhân thành công lớn là những người biết phân bổ quỹ thời gian hợp lý. Sự phân bổ quỹ thời gian thiếu cân đối dễ dẫn đến sự xào xáo trong gia đình, ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập và tuổi thơ của con cái cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong gia đình, rất nhiều doanh nhân Việt Nam thành đạt, trẻ, đầy năng động và tham vọng, cũng chưa xây dựng được văn hóa trong gia đình. Họ chưa tổ chức được những bữa ăn văn hóa như sắp xếp bàn ăn, cách ngồi ăn, thức ăn, đồ uống hoặc thực tập các bữa ăn dùng dao, nĩa của người phương Tây. Nhiều doanh nhân thành đạt cũng chưa chú trọng ...xây dựng tủ sách trong gia đình và chưa để dành ngân sách cho các hoạt động văn hóa hàng năm cho gia đình như vui chơi, giải trí, du lịch, tham quan. Chính những sinh hoạt gia đình này sẽ tạo nên sự thư giãn cho con người và mức thăng bằng trong công việc hàng ngày.

Có một số nhân xét là phần lớn các doanh nhân Việt Nam ít đọc sách, ít sử dụng email và ít truy cập thông tin trên internet. Kinh nghiệm về lãnh đạo và quản lý còn quá mỏng. Kiến thức về thị trường quốc tế, về kinh tế của các nước đang phát triển cũng còn sơ sài. Theo Michael Porter (giáo sư của trường kinh tế của Đại học Harvard), tài sản của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự cạnh tranh của nước ấy. Nhưng muốn cạnh tranh thành công, ngoài điều kiện cần là phải có một nền kinh tế vĩ mô như môi trường chính trị và cơ sở pháp lý ổn định, lại phải có điều kiện đủ là ưu tiên chăm sóc nền kinh tế vi mô như các cơ sở kinh doanh năng động và môi trường kinh doanh lành mạnh. Nếu phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chưa tự trang bị cho mình đầy đủ tri thức cần thiết và không có tầm nhìn xa và rộng thì thực khó lòng có đủ sức cạnh tranh với thế giới một khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO. Một nhận xét khá chính xác là phần lớn các doanh nhân Việt Nam nắm giữ chức vụ cao không có lịch làm việc khoa học như các đồng nghiệp của họ ở nước ngoài. Lịch làm việc của các cấp lãnh đạo chưa phản ánh các chương trình ưu tiên và trọng điểm của Công ty, chưa dành nhiều thời gian trong năm để tham dự các buổi hội thảo trong nước hoặc quốc tế hoặc họp với các ban, ngành, chuyên gia tư vấn để thảo luận các vấn đề phát triển công tư mang tính chiến lược. Chương trình làm việc của các doanh nhân đứng đầu doanh nghiệp phần lớn có tính bị động nhằm giải quyết các vấn đề hàng ngày, là những vấn đề thuộc phần vụ của các chức vụ như Phó giám đốc hay trợ lý của thủ trưởng cơ quan.

Về mặt phân cấp chức năng, văn hóa doanh nghiệp Việt Nam khác với văn hóa của các nước phương Tây phát triển. Tại các nước này, mỗi cấp quản lý có quyền quyết định các hoạt động thuộc chức năng của mình, kể cả phần chi thu thuộc phạm vi trách nhiệm, ưu tiên của sự phân cấp chức năng là làm cho mỗi cấp quản lý có thêm trách nhiệm, thêm sự tự tin, phát huy mọi sáng kiến, năng động hơn và có hiệu nâng cao. Sự phân cấp chức năng còn giúp cho vị thủ trưởng có thêm nhiều thì giờ và năng lực để tập trung giải quyết các vấn đề then chốt mang tính vĩ mô của Công ty.

Một đặc điểm thường gặp ở các doanh nhân nắm giữ các vai trò lãnh đạo tại Việt Nam là tập quán quan liêu, thiếu trong sáng trong quản lý và chưa khách quan trong tuyển dụng guồng máy nhân sự. Nếu không chữa trị, chính những chứng bệnh này sẽ làm thui chột trí tuệ, năng lực, sự sáng tạo, sức cạnh tranh và đà phát triển của mỗi Công ty. Đây là những chứng bệnh nan ý khó có thể chữa lành trong một sớm một chiều. Nhưng muốn chiến thắng cuộc thư hùng không phải bằng súng đạn mà bằng chính những tấm thẻ tín dụng và các con số trong sổ kế toán thì bằng mọi phương cách, các doanh nhân phải tự chữa lành các căn bệnh nan y của mình.

Hình ảnh của một doanh nhân nắm vững vai trò lãnh đạo còn có thể thấy qua người thư ký của mình. Người thư ký của Giám đốc và Tổng Giám đốc là người gây ấn tựơng đầu tiên cho các đối tác và khách hàng của Công ty. Vì vậy, người thư ký phải được đào tạo đúng mức và phải có lối ứng xử thích hợp với từng loại khách. Người thư ký còn phải có phong thái tự tin xem mình như là người đại diện của Công ty trong lúc giao tiếp với khách trên điện thoại hay trong lúc vị Giám đốc hay Tổng Giám đốc còn bận chưa tiếp được khách.

Hiện nay phần lớn các thư ký của các doanh nhân chưa hành xử đúng vai trò của mình. Trong giờ rảnh buổi trưa hay trong giờ nghỉ giải lao, ít thấy có một người thư ký cầm một quyển sách hay một quyển truyện đọc như các đồng nghiệp của mình thường làm ở nước ngoài. Phẩm chất của người thư lý do đó là một phần phẩm chất của một doanh nghiệp. Hiện nay đã có bao nhiêu doanh nghiệp sử dụng người thư ký với phẩm chất ấy.

Để có những doanh nhân trên đây, muốn làm một doanh nhân lãnh đạo một doanh nghiệp không phải dễ. Văn hóa doanh nhân chính là tổng thể đạo đức của tất cả cá nhân trong một doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân không thể tách rời nhau. Một doanh nghiệp có cả hai loại văn hóa đó quyện vào nhau sẽ làm nên sức mạnh của doanh nghiệp. Một nước có nhiều doanh nghiệp như thế sẽ là nền tảng của một nền kinh tế giàu mạnh. Chính vì thế, muốn mạnh, muốn đủ sức để cạnh tranh với thế giới, các doanh nhân lãnh đạo của Việt Nam không thể không xây dựng những nét văn hóa trên, đi từ những điều bình thường trong gia đình đến những nguyên tắc nghiêm nhặt của một doanh nghiệp.

Lãnh đạo một doanh nghiệp không phải là một đặc ân trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nó vừa là một nghệ thuật vừa là một thiên chức cần phải phấn đấu không ngừng nghỉ. Nó hàm chứa cả “đạo” lẫn “đức”. Đạo giúp tìm được con đường dài và chiến lược đúng để đi, còn Đức là phần thưởng vừa tinh thần vừa vật chất tích lũy được trên con đường kinh doanh lâu dài của Công ty.
Nguồn: Tạp chí Nhà quản lý

Bạn có phải là nhà lãnh đạo trong khủng hoảng?


Cuộc khủng hoảng tài chính có thể đánh dấu sự khởi đầu của một kiểu nhà lãnh đạo mới. Những nhà lãnh đạo bình tĩnh, quản lý được rủi ro và lường trước được các "cơn bão" có thể xảy ra. Liệu bạn có thuộc kiểu nhà lãnh đạo này không?. Hãy thử sức với bài trắc nghiệm dưới đây.


Ảnh minh họa

1. Trưởng phòng nghiên cứu và phát triển tới phòng làm việc của bạn, bắt đầu giải thích một cách rất căng thẳng về vấn đề mà một sản phẩm mới đang gặp phải. Bạn nhanh chóng nhận ra rằng bạn không hiểu về vấn đề này, thậm chí ngay cả những điều cơ bản nhất.

a. Bạn lắng nghe và sau đó bảo ông ta hãy tự đưa ra quyết định mà ông ta nghĩ là tốt nhất.

b. Bạn gật đầu và làm ra vẻ bạn hiểu vấn đề, sau đó ra quyết định dựa trên những gợi ý của ông ta.

c. Thừa nhận rằng bạn không nắm rõ vấn đề và nhờ một nhà điều hành khác giúp bạn hiểu hơn về vấn đề này.

d. Nhớ trong đầu là phải tìm hiểu thêm về hoạt động của các công ty nghiên cứu và phát triển.

2. Khi phải ra quyết định, bạn sẽ:

a. Cho rằng chỉ có một người là ông chủ thôi và bạn có được vị trí như ngày nay nhờ việc bạn đưa ra các quyết định đúng, của riêng mình.

b. Là người muốn thu thập ý kiến của càng nhiều người càng tốt trước khi đi đến một sự thống nhất.

c. Ủy thác lại. Bạn thuê những người tài giỏi, thông minh, trả tiền cho họ thì lẽ nào bạn không thể giao việc này cho họ được chứ?!

d. Kết hợp cả kiểu a và kiểu b. Bạn xem xét tất cả những lựa chọn có sẵn, sau đó chịu trách nhiệm cuối cùng về việc đưa ra quyết định mà bạn cho là đúng nhất.

3. Khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tôi động viên nhân viên của mình bằng:

a. Tiền thưởng: Ai lại không thích tiền thưởng cơ chứ!

b. Mục đích: Mọi người làm việc ở đây biết về điều chúng ta đang cố gắng để làm được.

c. Không làm gì cả.

4. Cuộc khủng hoảng kinh tế có thể khiến chính phủ nhiều nơi đưa ra các luật lệ, quy tắc chặt chẽ hơn. Bạn xem điều này:

a. Là điều không thể tránh khỏi. Nó đang diễn ra rồi, vì thế tốt hơn cả là học cách thích nghi.

b. Điều này không tốt cho doanh nghiệp của bạn và bạn phản đối bằng mọi giá.

5. Bạn đã thông báo một kế hoạch chiến lược 5 năm trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng này. Bạn sẽ:

a. Giữ nguyên kế hoạch. Việc có tầm nhìn dài hạn rất quan trọng. Chỉ nghĩ về những cái trước mắt thì làm sao giành được những mục tiêu xa hơn!

b. Bắt đầu lại. Đây là lúc cần sự linh hoạt và suy nghĩ sáng tạo.

c. Tìm kiếm câu trả lời từ các cộng sự - những người đang nhìn thấy cuộc khủng hoảng này - hoặc ít nhất là lên kế hoạch để bảo vệ công ty khỏi những thảm họa không lường trước.

d. Cứ để nguyên kế hoạch đó và không làm gì cho đến khi khủng hoảng qua đi. Bất kỳ quyết định nào vào lúc này đều có thể sai.

Kết quả:

Câu 1: đáp án đúng là c. Nhà lãnh đạo không sợ thừa nhận những điều họ không biết.

Câu 2: đáp án đúng là d: Thực ra việc ủy thác không phải là quá tệ nhưng nhà lãnh đạo cần phải là người cuối cùng ra quyết định. Quá nhiều quan điểm (như phương án b) cũng không phải là tốt hoàn toàn vì quá nhiều có thể dẫn đến việc không dẫn tới một sự nhất trí nào.

Câu 3: đáp án đúng là b. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiền thưởng không làm cho nhân viên làm việc tốt hơn. Các nhà lãnh đạo tốt nhất có thể truyền đạt rằng doanh nghiệp của mình đang tạo ra những điều gì, các sản phẩm sẽ được cải thiện như thế nào hoặc giúp công ty vượt qua giai đoạn khó khăn và phát triển bền vững.

Câu 4: đáp án đúng là a. Nhà lãnh đạo nhận ra rằng họ cần biết các luật lệ luôn chặt chẽ, tôn trọng và phối hợp hiệu quả với những người đưa ra các luật lệ này.

Câu 5: đáp án đúng là b. Trong trường hợp này, các nhà lãnh đạo bảo vệ cuộc sống cần thích nghi nhanh chóng khi những cơn bão không lường trước tấn công. Bây giờ không phải là lúc để cứng nhắc hoặc đổ lỗi.

Nguyệt Ánh
Theo CNN

“Quản lý” lại ông chủ, tại sao không?

“Quản lý” lại ông chủ để giữ niềm vui và năng suất trong công việc. Nếu ông chủ dưới hoặc trên tầm quản lý của bạn, bạn có thể làm gì để đạt được những điều mình cần từ họ? Và bạn có thể làm thế nào “quản lý” họ hiệu quả để luôn cảm thấy vui vẻ và làm việc đạt năng suất cao?

Ảnh minh họa. Nguồn: Corbis

Hầu hết mọi người đều cho rằng quản lý ai đó, nhất là cấp trên của mình trong công việc là “con đường một chiều”. Họ nghĩ rằng chỉ có ông chủ của họ mới có quyền quản lý mà lại quên mất một điều: chính những ông chủ đó cũng cần sự quản lý của bạn.

Các lãnh đạo đôi khi cũng cần được quản lý bởi chính nhân viên của mình bởi lẽ đôi khi họ cũng rơi vào tình trạng trên hoặc dưới tầm kiểm soát nhân viên. Ví như, họ trên tầm quản lý của người cấp dưới, quản lý vi mô và tiếp tục kiểm soát quá trình tiến triển của công việc. Hoặc, họ nằm dưới tầm quản lý: không đưa ra cho nhân viên đủ phương hướng, cụ thể và thông tin phản hồi.

Những vấn đề kiểu như trên xảy ra thường xuyên hơn so với những gì bạn có thể tưởng tượng vì vô vàn những lý do khác nhau. Ví dụ, những nhà quản lý thường được thăng tiến dựa trên sự tinh thông về kỹ thuật và hiếm khi được đào tạo để có những kỹ năng thành thạo quản lý nhân viên. Hay nhiều khi họ thiếu những mẫu hình lý tưởng trong vai trò của người quản lý nên phản ứng như thế nào với những điều kiện ngoại cảnh khác nhau, và vai trò lãnh đạo được thể hiện như thế nào? Cuối cùng nhưng không phải kém quan trọng, họ ít khi thu nhận được những phản hồi cụ thể từ nhân viên của mình một cách đúng lúc về việc họ sẽ làm như thế nào.

Nếu bạn có một ông chủ cần được quản lý vì một trong số những lý do đã đề cập ở trên, thì đây chính là một số việc hữu ích bạn có thể làm để cải thiện mối quan hệ của bạn với họ.

Hãy đặt bản thân vào tình cảnh của họ

Hãy cố gắng tìm hiểu những thách thức mà ông chủ của bạn đang phải đối mặt và tìm ra những dạng áp lực mà ông chủ của bạn đang phải chịu. Điều này có thể làm lên sự khác biệt đáng kể trong việc tìm hiểu tại sao ông chủ của bạn sẽ không quản lý bạn một cách thích đáng.

Cung cấp những phản hồi tích cực

Hãy dành cho người quản lý của bạn những phản hồi tích cực về những điều đang làm cho quan hệ giữa bạn và họ tốt hơn lên. Ví như, hãy nói rằng: “Cảm ơn vì đã trả lời ngay lập tức khi tôi cần sự giúp đỡ của ông trong tình huống cấp thiết từ phía khách hàng. Khách hàng của tôi rất hài lòng với cách giải quyết đó và sự giúp đỡ của ông thực sự là công cụ hữu hiệu để giữ chân khách hàng này.”

Đưa ra mục tiêu cấp tiến

Khi bạn muốn ông chủ thay đổi hành vi ứng xử, thay vì đưa ra những phản ứng về những điều không thể thực hiện trong quá khứ, hãy tập trung vào mục tiêu bạn mong muốn họ sẽ làm trong tương lai. Việc chuyển đổi mục tiêu từ quá khứ sang tương lai sẽ giúp bạn duy trì được quan điểm tích cực. Tập trung vào quá khứ và những điều chưa thực hiện được có thể thường tạo ra cảm giác chống đối và tức giận. Nếu như hướng mục tiêu về phía tương lai, bạn sẽ tạo ra một không khí tích cực giúp cho ông chủ của bạn thay đổi hành vi ứng xử nhanh hơn.

Hãy là người gương mẫu

Nếu bạn muốn ông chủ làm một số việc nào đó, hãy tự mình thực hiện chúng. Ví như, nếu ông chủ của bạn cần cải thiện kỹ năng lắng nghe, bạn nên thực hành kỹ năng này trong các cuộc nói chuyện với ông ta. Ông chủ sẽ sớm nhận ra cách ứng xử của bạn và cư xử sao cho thích hợp với những điều bạn đang làm.

Cuối cùng, hãy nhớ kỹ rằng, đúng thời điểm những nhà quản lý cần thay đổi phong cách lãnh đạo của họ sao cho thích nghi với người mà họ đang phải đối mặt, thì bạn hãy “quản lý” lại họ. Bạn không thể quản lý tất cả những ông chủ của bạn theo cùng một cách. Hãy cố gắng tìm hiểu xem đâu là phong cách lãnh đạo họ ưa thích, bạn có thể gây ảnh hưởng với họ như thế nào, điều gì cần làm và điều gì không nên làm đối với họ. Nếu bạn làm tốt công việc và dành thời gian để chuẩn bị kế hoạch hành động, thì sẽ sớm gặt hái được kết quả như ý.

X.Chi
Theo Human resources management