Hiển thị các bài đăng có nhãn JOURNALIST. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn JOURNALIST. Hiển thị tất cả bài đăng

22/5/09

Quốc hội, bauxite Tây Nguyên và lòng dân

Công trường bauxite Tân Rai, Lâm Đồng. Ảnh: Trần Đức Tài

SGTT - Không rõ, chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, ông Trần Đình Đàn, dựa trên cơ sở nào để nói rằng: “Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bauxite”. Ở thời điểm ông Đàn tuyên bố, 18.5.2009, Quốc hội vẫn chưa khai mạc, Chính phủ chưa báo cáo và các đại biểu chưa thảo luận. Hơn hai tuần trước, ngày 4.5, khi tiếp xúc cử tri tại phường Giảng Võ, chủ tịch Nguyễn Phú Trọng cũng nói, Chính phủ sẽ dành “một phần trong Báo cáo về kinh tế xã hội” để đánh giá về bauxite. Để rồi, chiều 14.5, khi “Kết luận phiên họp UBTVQH” ông đã phải yêu cầu Chính phủ “chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên”.

Như vậy, mặc dù Thủ tướng đã giao cho một số bộ, ngành đưa “bauxite Tây Nguyên” vào báo cáo chung. Và, khi nói với cử tri, có thể cá nhân chủ tịch Quốc hội cũng ủng hộ Thủ tướng cách làm này. Nhưng, ông vẫn phải kết luận như trên sau khi “một số đoàn đại biểu và các cơ quan của Quốc hội muốn có một báo cáo riêng về bauxite”.

Khác với những cơ quan nhà nước khác, “Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số” (điều 4, luật Tổ chức Quốc hội). Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội và ngay cả chủ tịch Quốc hội cũng chỉ có mỗi người một phiếu và không ai có thể phát ngôn thay cho 493 đại biểu của dân. Trước đây, chủ tịch Nông Đức Mạnh đã thể hiện vai trò này một cách thành công khi ông, thay vì “kết luận” các phiên họp của uỷ ban Thường vụ hay của Quốc hội, đã tóm tắt các ý kiến thảo luận rồi “xin ý kiến”.

Trong bộ máy Nhà nước, có những thiết chế cần những cá nhân quyết đoán để ra mệnh lệnh, có những thiết chế cần sự dẫn dắt để ý kiến đa số có điều kiện hình thành. Cũng là một con người nhưng khi nhận lãnh “vai” nào thì phải hành xử đúng như những quy định về “vai” ấy đã được ghi trong Hiến pháp.

Có lẽ, vì Quốc hội có hơn 90% đảng viên nên ông Trần Đình Đàn tin “chắc chắn là Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ” sau khi nhấn mạnh khai thác bauxite đã thành “chủ trương của Đảng” và có “kết luận của bộ Chính trị”. Chưa nói về nguyên tắc “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện làm thay”, cách hiểu “Kết luận của bộ Chính trị” của một số tổ chức và cá nhân thời gian qua cho thấy cũng rất cần “quán triệt”.

“Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bauxite”. Ở thời điểm ông Đàn, chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, tuyên bố, 18.5.2009, Quốc hội vẫn chưa khai mạc, Chính phủ chưa báo cáo và các đại biểu chưa thảo luận

Bộ Chính trị nhấn mạnh “chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết” vì có rất nhiều lao động phổ thông Trung Quốc xuất hiện trên công trình Tân Rai. Bộ Chính trị yêu cầu “lựa chọn công nghệ hiện đại” vì có nhiều băn khoăn về loại công nghệ đang được đưa vào Tây Nguyên; vì, nói là “thí điểm” mà cả hai dự án Nhân Cơ và Tân Rai đều chỉ sử dụng một nhà thầu là tập đoàn Chalco của Trung Quốc với cùng công nghệ.

Bộ Chính trị kết luận: “Riêng dự án Nhân Cơ, phải rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường” là để khẳng định: “Nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện”, chứ không phải là đương nhiên triển khai thực hiện. Khi bộ Chính trị yêu cầu: “Ban cán sự Đảng Chính phủ chuẩn bị báo cáo với ban Chấp hành Trung ương và chỉ đạo việc chuẩn bị báo cáo Quốc hội”, là không chỉ muốn cung cấp thông tin mà còn đòi hỏi các cơ quan này phải phát huy vai trò kiểm tra, giám sát.

Trong buổi tiếp xúc cử tri hôm 4.5, chủ tịch Quốc hội cũng thừa nhận, “không chỉ cử tri Hà Nội mà trong chuyến đi công tác nước ngoài vừa qua, rất nhiều kiều bào cũng quan tâm đến việc Quốc hội phải giám sát dự án bauxite Tây Nguyên”. Không riêng Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng nghe được đòi hỏi ấy của người dân Việt Nam, các đại biểu Quốc hội về Hà Nội trong kỳ họp này chắc chắn cũng đã được cử tri của mình gửi gắm. Với những chủ trương liên quan không những tới môi trường mà còn là “an ninh quốc gia” như khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì vấn đề không chỉ là “quy mô, tầm cỡ của dự án” ở mức một tỉ hay “600 triệu đô la” mà là “lòng dân” mới là yếu tố quan trọng nhất để Quốc hội đặt lên bàn nghị sự.

Huy Đức

Sống chung với hàng Trung Quốc?

SGTT - Trung Quốc là nhà máy của toàn thế giới và hàng Trung Quốc có mặt khắp các châu lục. Chúng ta chắc chắn sẽ còn sống chung với hàng Trung Quốc và việc hợp tác kinh tế với họ, qua lại với họ về sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là điều không thể tránh khỏi. Song đó là một chiến lược lớn cần đề cập căn cơ, quan niệm tỉnh táo và có tầm nhìn, định hướng lâu dài, hai bên cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng nhau chứ không được áp đặt, lấn lướt giành phần khôn, phần lợi về mình.

Một chiến lược giao thương và hợp tác kinh tế với Trung Quốc trong tình hình mới hiện nay cần được bàn luận trong toàn dân để Nhà nước trên cơ sở đó mà có quyết sách hợp lòng dân. Khi có quyết sách hợp lòng dân thì Nhà nước ta mới đủ sức mạnh đàm phán và làm ăn với anh bạn lớn, đủ sức đương đầu vượt qua những lá lay, lấn lướt thường thấy lâu nay.

Riêng về vấn đề “nhà nhà đánh hàng, bán hàng Trung Quốc” hiện đang xảy ra thì theo tôi có hai biện pháp cần quan tâm sớm:

1. Doanh nghiệp Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam cần có đầy đủ thông tin về đối sách Trung Quốc đang sử dụng cho thị trường Việt Nam, về chiến lược lâu dài cũng như các sách lược, các chiêu thức, kỹ xảo của Trung Quốc đang áp dụng cho Việt Nam.

Họ có đội ngũ nghiên cứu giỏi, được trang cấp mọi phương tiện và có nhiều kênh thông tin cấp thời, hiệu quả cho doanh nghiệp. Một công ty dệt may vừa đi mua nguyên phụ liệu ở Trung Quốc kể rằng đã bị nhiều nhà bán lẻ Trung Quốc chặn hỏi, phải chăng Nhà nước Việt Nam đang có chiến dịch đưa hàng dệt may Việt Nam về tranh chỗ của hàng dệt may Trung Quốc ở nông thôn Việt?

Trung Quốc hiện tiến hành một cuộc xâm nhập có tính chất toàn diện đối với Việt Nam (kinh tế, chính trị, đầu tư, thương mại, xã hội, văn hoá…) và những chính sách, biện pháp cụ thể là gì? Nhiều điều khoản bất công trong giao thương với đối tác nước ngoài, trong đó có Việt Nam đã được chính báo chí Trung Quốc bức xúc công khai nhưng các thông tin này hoàn toàn bị bưng bít đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam. Các cơ quan chức năng Việt Nam có nắm rõ không các điều khoản bất công này để tư vấn cho doanh nghiệp mình?

Khi nhiều hãng buôn Trung Quốc đồng loạt mở mặt trận tuyên truyền về mọi sự thuận lợi, dễ dàng, hiệu quả để buôn hàng Trung Quốc thì thông tin về những cú lừa đảo hàng chục tỉ đồng của giới thương buôn Trung Quốc với mặt hàng nguyên liệu may mặc, điện tử làm điêu đứng các siêu thị tên tuổi của Việt Nam, các công ty dệt may lớn của Việt Nam lại bị che giấu kỹ. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhập máy móc Trung Quốc, nhập nhầm rác thải công nghệ, thiết bị lạc hậu đành ôm hận trùm mền, và các sự việc này không được thông tin khiến nhiều công ty khác tiếp tục vướng bẫy. Nhiều nhà buôn Việt Nam nhắm mắt tiếp tục nhập khẩu hàng hoá của những hãng Trung Quốc bị cảnh báo về vệ sinh an toàn thực phẩm đã không được thông tin rộng rãi cho người tiêu dùng Việt Nam, đến đỗi báo chí Trung Quốc phải lên tiếng về những sự bất công, mập mờ mưu lợi bất chính của doanh nghiệp Trung Quốc với các đối tác nước ngoài.

2. Giành lấy chủ quyền thương mại trên thị trường đất nước mình.

Báo chí cần nêu đích danh những cơ quan chức năng nào “nối giáo” cho kẻ ngang nhiên gian lận thương mại, ăn cắp thị trường và thị phần của doanh nghiệp Việt Nam

Vào thời buổi Nhà nước Trung Quốc hô hào các nhà kinh doanh Trung Quốc phải quan tâm hơn tới thị trường nội địa của họ, cũng như các quốc gia khác đều phải chú trọng tăng cầu nội địa để đối phó khủng hoảng, thì không thể chấp nhận những chiêu thức gian lận thương mại, không chính đáng, không hợp pháp để hàng Trung Quốc giành lấy phần của hàng Việt Nam trên thị trường Việt Nam. Họ đang ra sức đẩy hàng dội khẩu sang các nước lân cận, họ chẳng giấu giếm gì và ta cũng biết thừa. Nhưng cùng với việc gia tăng các hàng rào kỹ thuật đối với hàng Việt Nam, gây khó khăn đủ điều cho việc nhập hàng Việt Nam thì họ khuyến khích, dung túng mọi hình thức đi buôn hàng Trung Quốc không đóng thuế, không chính ngạch, chuyển ngân cũng không đóng thuế.

Khi họ công bố cấm tàu đánh cá Việt Nam đánh cá trên vùng biển của Việt Nam, sao họ có thể đẩy hàng lậu và hàng giả ồ ạt sang ta? Tất nhiên muốn hàng lậu và hàng giả ngon trớn vào Việt Nam thì phải có sự hợp lực của phía họ lẫn cơ quan chức năng của mình. Biên giới dài rộng, một gánh hàng của ta vào họ không lọt nhưng hàng tấn tấn hàng của họ vào ta ngon ơ, vì sao? Vì sao mà doanh nghiệp Việt Nam ngay tại thành phố này, chỉ mới trưng bảng giảm giá 70% đã tức thì bị quản lý thị trường lập biên bản phạt tội bán phá giá (than ôi thời buổi bị hàng Trung Quốc áp sát, giảm giá tới 70% còn chưa “xi nhê”) mà cả một khu chợ tưng bừng giữa quận 1 Sài Gòn bán toàn đồ giả nhập từ Trung Quốc, mỗi ngày huỷ hoại sức cạnh tranh của biết bao doanh nghiệp may mặc lương thiện của Việt Nam, cứ nhơn nhơn phát triển?

Với tất cả hàng bán dưới giá thành bình thường, cơ quan chức năng cứ truy hỏi nguồn gốc, hoá đơn là thấy ngay xuất xứ hàng hoá và dễ xử quá chừng, sao không làm được? Hãy truy hỏi công bằng như đối với mọi doanh nghiệp Việt Nam có trưng bảng kinh doanh đàng hoàng, đầu tư thương hiệu nghiêm túc, để có được một cuộc cạnh tranh ngang bằng, không cần thiên vị chút nào với doanh nghiệp trong nước.

Chúng ta biết là giữa hội chợ Quảng Châu, hàng đẹp như mơ không có nhãn mác được bày bán công khai. Hỏi vì sao, họ nói, họ chờ người mua yêu cầu nhãn gì thì gắn nhãn đó. Made in Vietnam đầy dẫy. Họ cũng hướng dẫn, và cung cấp luôn dịch vụ chuyển hàng qua Singapore, Hong Kong, Malaysia để xoá hẵn gốc Trung Quốc.

Thực tế là hàng Trung Quốc, nếu nhập chính ngạch, vào siêu thị hay cửa hàng lớn của Việt Nam thì giá đắt hơn hàng Việt Nam cùng đẳng cấp. Họ phải cạnh tranh ngang bằng như vậy, không thể ngang ngạnh cấm người ta đánh cá trên biển người ta mà lại thản nhiên đẩy hàng lậu, hàng giả vào thị trường người ta không xấu hổ.

Báo chí cần nêu đích danh những cơ quan chức năng nào “nối giáo” cho kẻ ngang nhiên gian lận thương mại, ăn cắp thị trường và thị phần của doanh nghiệp Việt Nam.

Trên đây là hai giải pháp nhất thời. Còn chuyện “chiến đấu” công bằng với quyền lực mềm, cuộc chiến mềm với hàng lậu và hàng giả Trung Quốc, làm sao hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong hợp tác và cạnh tranh với hàng Trung Quốc về lâu dài là một câu chuyện dài. Chuyện dài nhưng đã bức bách như lửa cháy phừng phừng. Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đành lòng nhắm mắt chọn giải pháp đóng máy, cho thợ tạm nghỉ, đưa hàng sang gia công bên Tàu về bán, lời hơn và thị trường Việt Nam ngày càng cam tâm là nơi ưu tiên tiêu thụ hàng Trung Quốc. Lửa cháy vậy mà cơ quan chức năng nguội lạnh, doanh nghiệp thì rời rạc, loay hoay tìm lối thoát. Đó cũng là câu chuyện lớn rất thực tế về sự tồn tại của nền kinh tế Việt Nam.

Kim Hạnh

22/2/09

TĂNG ĐẦU TƯ VÀO CON NGƯỜI

Tôi nhìn vào lương Nhà nước trả cho công nhân viên hoạt động trong khu vực nhà nước, đặc biệt trong khu vực dịch vụ nhà nước.

Ngân sách Nhà nước tính theo tỷ lệ GDP ở Việt Nam là 30%, cao gấp đôi Ấn Độ và gấp rưỡi Trung Quốc hay Thái Lan, nhưng lại trả lương cho công nhân rất thấp, chỉ bằng 13% tổng chi ngân sách và bằng có 3,8% GDP, đây là hình thức bóc lột thặng dư lao động nhằm tăng đầu tư ở khu vực kinh tế nhà nước. Thu ngân sách nhiều, nhưng chi phí cho dân rất ít. Tổng số chi của Nhà nước cho các dịch vụ phục vụ nhân dân chỉ có 6,1% GDP, thấp hơn một nửa so với Trung Quốc hoặc Thái Lan. Phần còn lại là đầu tư. Đó là chưa kể đến phần đầu tư mà doanh nghiệp quốc doanh thực hiện dựa một phần quan trọng vào giá trị thặng dư vì lương lao động trả thấp.

Trả lương thấp, lo cho dân chúng thấp là vì Nhà nước muốn tập trung vốn vào đầu tư. Chính vì thế mà đầu tư lên tới 41% GDP. Đầu tư vào loại hàng đầu thế giới nhưng hiệu quả thấp, tốc độ tăng GDP cũng không cao, và trở thành nhân tố chính tạo tham nhũng và gây nạn lạm phát cao, làm đời sống đại đa số dân chúng với lương đã quá thấp khốn khổ thêm.

Tỷ lệ để dành của nền kinh tế là 29% GDP, có vẻ khá cao nhưng không phải từ thu nhập của người lao động. Để dành gồm nhiều phần: để dành của dân chúng, để dành của doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài và để dành của Nhà nước. Tất nhiên để dành của Nhà nước là âm; phần để dành của dân chúng từ sản xuất khi trừ đi tiền kiều bào và lao động ở nước ngoài gửi về chắc chắn là không nhiều; vì lương thấp, do đó phần còn lại chính là từ khấu hao và thăng dư lao động mà doanh nghiệp quốc doanh giữ lại. Người dân lao động lương không đủ sống, lại được hưởng lợi ích xã hội thấp, do đó sản xuất chỉ để Nhà nước bòn rút thặng dư đưa vào tích luỹ.

Cần có một cái nhìn mới về chiến lược phát triển, mà chất lượng phải được đặt lên hàng đầu. Lương lao động đủ sống phải được coi là đầu tư vào con người. Chính con người là vốn quan trọng nhất trong phát triển. Khi lương không đủ sống, con người sẽ rất dễ làm những điều bình thường họ không làm, do đó mà đạo đức xã hội xuống dốc. Chúng ta cần xét lại chính sách tăng cường thặng dư nhằm tăng tích luỹ để chạy theo tốc độ tăng GDP bất chấp hậu quả hiện nay và quay trở lại với một Nhà nước có trách nhiệm xã hội.

Tiến sĩ VŨ QUANG VIỆT

19/2/09

NHÀ BÁO HIỆN ĐẠI - Sự phát triển của các tổ chức truyền thông đa phương tiện


Các công ty truyền thông như viễn thông, truyền hình cáp và các khối giải trí đang tranh giành nhau để có chân trong “thị trường” tích hợp các phương tiện truyền thông mới. Một vài ví dụ:
v Henry Luce đã giành được sự kiểm soát hoàn toàn tạp chí Time (www.time.com). Người kế nghiệp của ông thêm vào đó những tạp chí thành công khác, bao gồm tờ Fortune và tờ Sports Illustrated. Hiện tại mảng tạp chí là một phần nhỏ của công ty khổng lồ AOL Time Warner (www.timewarner.com), chuyên về chương trình giải trí, xuất bản sách, tạp chí và chương trình truyền hình cáp đặc sắc. Nó bao gồm những đơn vị khác nhau như Cable News Network (www.cnn.com), Warner Brothers (www.timewarner.com), và đội bóng chày Atlanta Braves. Gần đây hơn, nó trở thành một bộ phận của American Online (www.aol.com) trong sự liên doanh truyền thông lớn nhất trong lịch sử. Sự liên doanh đó minh họa sinh động cho sự kết hợp các phương tiện truyền thông cũ và mới.
v Cox Enterprises Inc. (www.coxnews.com) bắt đầu chỉ với một tờ báo vào năm 1898. Cox là một trong những công ty truyền thông lớn nhất quốc gia, và về mặt lịch sử, nó bao gồm cả những phương tiện truyền thông hiện đại: đài phát thanh, đài truyền hình và truyền hình cáp. Vào tháng 4/1996, Cox Interactive Media được thành lập để cho ra đời những tờ báo trực tuyến ở các thành phố mà có sự hiện diện của các phương tiện truyền thông của Cox. Và Access – Atlanta (www.accessatlanta.com) là trang thông tin quan trọng hàng đầu.
v Knight Ridder (www.kri.com), một trong những công ty truyền thông được chú trọng nhất ở Mỹ, từ lâu đã nhận thấy giá trị của việc truyền tải tin điện tử. Thử nghiệm vào những năm 1940, những bản tin đầu tiên được fax, vào những năm 1970, bản tin được truyền hình và vào những năm 1990 báo được điện toán hóa và phát lên mạng. Bạn có thể tìm tất cả các báo trực tuyến của Knight – Ridder trên mạng Real Cities Network (www.realcities.com) và tờ San Jose Mercury News đi đầu trong việc phát tin qua Internet với trang web Mercury Center (www.mercurycenter.com) của nó.
v Những công ty phát hành báo lớn khác, bao gồm New York Times Co. (www.nyt.com) và Tribune Co., nhà xuất bản của tờ Chicago Tribune (www.tribune.com), chuyển tin chủ yếu qua mạng Internet.
v Thậm chí các công ty báo chí nhỏ cũng vào cuộc. Tờ Lawrence Journal - World (www.ljworld.com) mở một công ty truyền hình cáp và một trang web và là người sử dụng đầu tiên công nghệ “đẩy”, đưa thông tin đến cho người dùng dựa vào sự thu hút được xác định trước.
v Các công ty truyền hình cũng không thoát khỏi sự liên kết. NBC (www.home.nbci.com) có một trong nhiều trang đầy tham vọng trên Internet, và có những dự án chung về truyền hình và Internet với hãng máy tính khổng lồ Microsoft (www.msnbc.com). Các hãng khác như CBS, ESPN, FOX va CNN đều có những trang chính trên Internet.
Việc các hãng như Microsoft nhảy vào địa hạt truyền thông làm những ai xưa nay đang kiếm sống trong ngành này phải lo lắng. Nhiều người đặt câu hỏi liệu một công ty như Microsoft, nổi tiếng đã không từ chuyện gì để cải thiện lợi nhuận, có thể đáp ứng được những tiêu chuẩn cao được đặt ra bởi các nguyên tắc truyền thông cho việc quản lý các hoạt động tin tức hay không. Nhưng kể từ lúc Microsoft trình làng mạng Microsoft chứa đầy tin tức, nó đã tiếp thu rất nhiều từ các báo, các đài truyền hình, báo cáo của các công ty trong việc đảm bảo những tiêu chuẩn khắt khe cho các hoạt động truyền thông từ lâu đã được đề cao.
Những hãng như Microsoft sẽ không đặt chân vào công việc kinh doanh nếu tiềm năng về lợi nhuận không đáng kể. Rõ ràng, Microsoft, AOL Time Warner, và MTI’s Negroponte có chung một tầm nhìn về tương lai – kết hợp các phương tiện truyền thông và giải trí vào một phương thức truyền thông mới có khả năng cung cấp sự lựa chọn tin tức bằng văn bản hay bằng các đoạn phim và những bộ phim mới nhất bất kì khi nào được yêu cầu. Tầm nhìn đó là nền tảng cho sự mua bán ồ ạt tài sản của các hãng truyền thông diễn ra trong suốt những năm 1990 và những sự liên kết các phương tiện truyền thông là có thể vì sự bãi bỏ quy định xảy ra sau khi Luật Viễn Thông được thông qua năm 1996. Bức tranh các phương tiện truyền thông đang thay đổi mạnh mẽ khi các công ty tự đặt cho mình một vai trò trong thương trường truyền thông của tương lai. Và trong khi chưa ai biết chính xác dạng phương tiện truyền thông tương lai sẽ là gì, hay dạng thức đó được phát đi như thế nào, thì mọi người đã muốn chia sẻ lợi nhuận. Thị trường triển vọng trong tương lai vô cùng lớn.
Bởi vì những cấu trúc liên kết đang thay đổi, nên những tòa soạn báo cũng thay đổi. Ví dụ, ở trụ sở chính của NBC tại New York, một thế hệ nhà báo mới đã lấy những bài báo từ mạng lưới các tòa soạn và số hóa chúng để lưu vào máy tính. Những bài báo này tạo cơ sở cho NBC Desktop News, một hệ thống thông tin bằng hình ảnh theo yêu cầu được bán rộng rãi cho các công ty trên toàn quốc. Nó đã được hợp nhất thành MSNBC.
Gộp chung vào các phương tiện truyền thông mới là những tiện ích của dịch vụ thông tin công cộng qua mạng, bao gồm CompuServe, Prodigy, American Online, Microsoft Network và các công ty khác. Càng ngày chúng càng đầy quảng cáo. Thậm chí Internet – trước kia thì những hoạt động bí mật của máy vi tính chỉ có một vài người uyên bác và các chuyên gia máy tính hiểu được – đang ngày càng trở thành phương tiện chuyển tải quảng cáo thương mại nhắm đến những bộ phận công chúng riêng biệt.
Điều đó giúp chúng ta nhận ra cái mà không mấy người làm báo muốn nghe: Chính quảng cáo chứ không phải tin tức đã là động lực phát triển của thị trường truyền thông. Để hiểu những sự thay đổi trong ngành truyền thông, phải theo sau đồng tiền quảng cáo. Có nhiều xu hướng cho thấy ngày càng có nhiều tiền quảng cáo đổ vào các phương tiện truyền thông hiện đại – thư điện tử gửi trực tiếp, truyền hình cáp, các mạng thông tin, và xa dần các phương tiện truyền thông truyền thống như truyền hình và báo chí. Cho đến bây giờ, thay đổi đó còn chậm, các chuyên gia quảng cáo mong muốn nó thay đổi nhanh hơn để tiếp tục tìm kiếm cách tốt nhất nhắm vào những khán giả mà mình mong muốn. Có thể một vài năm tới đây sẽ có những thay đổi nhanh chóng trong sự tích hợp các phương tiện truyền thông.
Vì sự tích hợp các phương tiện truyền thông thay đổi, nên định nghĩa về tin tức cũng thay đổi. Như chúng ta đã đề cập ở chương 1, những định nghĩa tin tức truyền thống nay không còn phù hợp nữa. Và hơn thế, định nghĩa tin tức đang thay đổi theo cách mà nhiều nhà báo chưa hề tưởng tượng được. Sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ thông tin qua mạng và thư điện tử có thể làm cho con người trên khắp thế giới gặp gỡ nhau qua mạng. Ở đó họ chia sẻ cùng nhau kiến thức, thuật lại cho nhau những chuyển biến mới nhất với hàng ngàn chủ đề. Những bộ phận được dùng nhiều nhất trong hệ thống đó là các diễn đàn và những trang tin điện tử. Những người sử dụng chọn thông tin theo những đề tài mà họ thích thú.
Điều đó đặt ra một câu hỏi là liệu chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mà vai trò lập chương trình của các phương tiện truyền thông sẽ thu hẹp lại? Theo truyền thống, các phương tiện truyền thông quyết định cái mà công chúng cần phải biết về một sự kiện nào đó. Hơn thế nữa, các phương tiện truyền thông đặt ra chương trình chung bằng cách sắp xếp sự quan trọng tương đối của các chuyên mục – theo sự trình bày và kích cỡ của chuyên mục hay trình tự trình chiếu trong chương trình truyền hình. Đảm đương nhiệm vụ như người gác cổng thông tin, các phương tiện truyền thông quyết định các sự kiện được bộc lộ đến mức độ nào. Với việc xuất hiện của phương tiện truyền thông qua mạng, tất cả những điều đó đang thay đổi. Càng ngày công chúng càng có khả năng lựa chọn từ núi thông tin khổng lồ và tự quyết định cái nào quan trọng, cái nào không. Không giống như báo, truyền hình, tạp chí, các phương tiện truyền thông qua mạng có không gian gần như vô hạn để truyền tải thông tin. Vì vậy, vai trò của những người làm nghề truyền tải tin tức như người gác cổng đang thu hẹp lại.
Những sự thay đổi đó sẽ yêu cầu một sự điều chỉnh trong vai trò của các nhà báo. Sự điều chỉnh đó tác động đến xã hội chúng ta như thế nào thì còn chưa rõ. Những người theo thuyết vị lai tin rằng các phương tiện truyền thông tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc lên chương trình nếu như chúng không ở trong vai trò người gác cổng thông tin nữa. Các nhà báo sẽ phải giúp công chúng chọn lọc qua lượng thông tin khổng lồ và nói cho họ biết cái nào là quan trọng. Một vài nhà báo phải dành thời gian làm điều đó cho chính bản thân họ.
Sẽ có rất nhiều việc làm cho các nhà báo. Rốt cuộc, vẫn phải có một ai đó thu thập tin tức và tổ chức nó thành một chương trình dễ tiếp thu, hữu dụng. Nhưng những dịch vụ truyền thông mới sẽ đòi hỏi các nhà báo trình độ kỹ năng rộng hơn. Trong khi một số nhà báo có thể tập trung vào viết, như bây giờ, thì họ sẽ phải thể hiện sự đánh giá phong phú hơn qua hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, bản đồ – và thậm chí các thiết bị nghe nhìn – có thể bổ sung cho bài báo của họ. Đó là bởi vì các nhà báo tương lai sẽ phải am hiểu các dạng truyền thông, bằng thị giác cũng như bằng ngôn từ. Nhiều cơ quan báo chí đang ủng hộ thực tế đó vì họ cố gắng làm cho các phóng viên tư duy bằng hình ảnh nhiều hơn và các nhà nhiếp ảnh, nhà quay phim tư duy bằng ngôn từ nhiều hơn. Để cung cấp những kỹ năng này, các trường báo chí truyền thông đang thay đổi chương trình giảng dạy để giúp sinh viên cảm thấy dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận những điểm cần thiết của tất cả các loại hình truyền thông. Bất kể những thay đổi đó, hầu hết các nhà báo trẻ trong một vài năm tới sẽ bước vào nghề ở những vị trí truyền thống.
Do vậy, đây quả là thách thức khi bạn lên kế hoạch cho sự nghiệp báo chí truyền thông của mình. Bạn không chỉ lập kế hoạch cho một nghề nghiệp cụ thể trong mạng lưới truyền thông hiện nay mà còn phải chuẩn bị cho một thời kỳ thay đổi bước ngoặt. Mặc dù sự thay đổi gây ra nhiều phiền toái, nhưng nó cũng đem đến những hi vọng. Đây là cơ hội để bạn tham gia vào giai đoạn chuyển tiếp của truyền thông đại chúng, một giai đoạn chắc chắn mở ra nhiều cánh cửa thành công.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

NHÀ BÁO HIỆN ĐẠI - Nhà báo không ngừng thay đổi


Ơ Tampa, tờ Tampa Tribune cùng với đài truyền hình WFLA có chung một tòa soạn. Tại sao? Gil Thelen, Tổng biên tập tờ Tribune, viết: “Mục đích của chúng tôi là phục vụ nhu cầu đang ngày càng thay đổi của độc giả và khán giả.
Họ đi trước chúng tôi trong việc sử dụng kết hợp cả báo in, truyền hình và lên mạng suốt ngày. Tôn chỉ của chúng tôi: “Luôn đi cùng thời sự và thông tin mọi lúc và mọi cách mà khách hàng của chúng tôi mong muốn”. Ông Thelen nói thêm: “Với tin nóng, chúng tôi cố gắng đưa tin sớm nhất, thường là truyền hình nhưng thỉnh thoảng là trực tuyến”.
Các nhân vật điều hành Media General, công ty sở hữu Tribune và WFLA mong muốn tạo được sự cộng tác với nhau để làm cho các hoạt động thông tin của mình đạt được hiệu quả cao nhất trên thị trường Tampa. Để làm điều đó, các cơ quan truyền thông của nó không chỉ chia sẻ phòng tòa soạn mà còn cộng tác trong việc đưa tin. Như đã nói ở chương 1, các loại hình truyền thông đan xen lẫn nhau như thế được gọi là sự hội tụ, và đó là trào lưu hiện nay trong công nghệ truyền thông. Điều đang diễn ra ở Tampa hầu như là một ví dụ sinh động nhất của sự hội tụ đang nổi lên ở Mỹ. Thật vậy, những cơ quan báo chí khác quan tâm đến cuộc thử nghiệm ở Tampa đến nỗi Ban biên tập của Media General bắt buộc chỉ cho người ngoài tham quan một ngày mỗi tháng.
Nhiều người cho rằng chúng ta đang chứng kiến đỉnh cao của một sự thay đổi lớn trong toàn cảnh truyền thông. Nicholas Negroponte, người sáng lập cũng là giám đốc Viện Công nghệ Massachusetts, miêu tả tính ưu việt của phương thức truyền thông mới như một hệ thống máy vi tính tại gia cho phép truy cập những ngân hàng dữ liệu rộng lớn và hiển thị kết quả ở dạng hình ảnh, âm thanh hay văn bản. Vì vậy, những thế mạnh chủ yếu của truyền hình – màu sắc, sự thu hút thị giác, tính trực tiếp, chi phí phân phối thấp – có thể kết hợp với ưu điểm của báo in – chiều sâu thông tin, sự giải thích rõ ràng và dễ mang theo người. Các hệ thống như thế phụ thuộc vào những dịch vụ kết nối Internet cao tốc, dịch vụ truyền hình cáp đến mỗi gia đình mà các công ty viễn thông đang đổ xô cung cấp.
Một vài thử nghiệm giống như thử nghiệm ở Tampa ngày nay có thể được thực hiện xuyên quốc gia vì những luật lệ của Hội đồng Truyền thông Liên bang (Federal Communications Commission – FCC) hạn chế sự sở hữu chồng chéo giữa báo in - báo hình trong một thị trường đơn lẻ. Ở Tampa, tờ Tribune và đài WFLA có thể làm điều đó vì cả hai đều phụ thuộc vào Media General trước khi luật của FCC có hiệu lực. Hạn chế nói trên đã không làm giảm sự hào hứng với những gì đang diễn ra ở Tampa, và nhiều người mong FCC nới lỏng những trói buộc đối với sự sở hữu chồng chéo đó. Nếu điều này xảy ra, hãy coi chừng một cơn lũ thử nghiệm kiểu Tampa.
Kinh nghiệm Tampa cho thấy, ngày nay việc chuẩn bị bước vào kinh doanh tin tức là một thử thách. Đó là vì công nghệ đang thay đổi nhanh chưa từng thấy trong lịch sử. Báo, tạp chí, máy thu thanh, máy thu hình – những phương tiện truyền thông truyền thống – đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng mới từ những trang Web dựa trên mạng vi tính và truyền hình cáp. Tất cả những ai sở hữu chúng, như Media General, đang cố gắng tính toán chiến lược tốt nhất cho tương lai.
Và là một nhà báo đầy nhiệt huyết, đương nhiên bạn phải hỏi: Tôi phải chuẩn bị như thế nào cho nghề nghiệp trong ngành công nghiệp truyền thông? Rất có thể, câu trả lời là phải làm quen với cái gọi là phương tiện truyền thông đại chúng mới, dựa vào Internet cũng như phương tiện truyền thông hiện tại.
Tương lai thật khó đoán trước bởi vì ở một mức độ nào đó các phương tiện truyền thông hiện tại dường như bị đe dọa bởi một phương thức truyền thông mới hay còn gọi là phương tiện truyền thông trực tuyến, một thuật ngữ chỉ những hệ thống phát tin dựa vào máy vi tính. Cũng như Negroponte, nhiều người mong đợi rốt cuộc một sự hội tụ của báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình thành một phương thức truyền thông mới trong tương lai. Dù điều đó có xảy ra hay không, xảy ra nhanh hay chậm, và khi nào thì cũng chỉ là phỏng đoán của mỗi người. Và dù sao bạn cũng phải đối đầu với thử thách khi bạn lập kế hoạch cho nghề làm báo của mình. Bạn không chỉ phải chuẩn bị làm việc cho một trong những loại hình truyền thông hôm nay mà còn phải sẵn sàng làm việc cho các loại hình truyền thông của tương lai. Bạn có thể làm những việc mà sau này sẽ biến mất, nhưng bạn cũng có thể làm những việc đang còn được phát minh. Dù sao đi nữa, vẫn có một yêu cầu hiển nhiên được duy trì cho những người đang hành nghề báo, bất chấp ở loại hình truyền thông nào, là phải tường thuật tốt, viết tốt, biên tập tốt và giao tiếp tốt.
Để rõ thêm về sự thay đổi nhanh chóng trong thế giới thương mại truyền thông, hãy xem xét một vài thống kê về báo in. Những thông tin này được xuất bản bởi Hội Liên hiệp Báo chí Mỹ, tổ chức thương mại đang dẫn đầu trong ngành công nghiệp báo chí:
* Công nghiệp báo chí đang thu hẹp lại. Có 1.483 tờ báo ngày ở Mỹ vào cuối năm 1999, so với 1.745 tờ vào năm 1980. Ít hơn 262 tờ.
* Vào năm 1970, có 78% người lớn của nước này hằng ngày đọc một tờ báo, nhưng năm 1999, tỉ lệ này giảm xuống, còn 61% nam và 53% phụ nữ. Tệ hại hơn, các cuộc điều tra cho thấy sự sụt giảm nhiều nhất là trong số các độc giả ở độ tuổi 34 trở xuống. Nghe có vẻ đó là điều đáng ngại cho tương lai, khi những độc giả lớn tuổi mất đi, sẽ không còn ai thay thế cho họ. Các nghiên cứu cho rằng người nào không sớm phát huy thói quen đọc báo thì cũng không làm được điều đó trong cuộc sống sau này.
Nếu ngành công nghiệp báo chí đang đi xuống, như một số tranh luận đưa ra, thì sự thực nó còn lâu mới chết. Hãy xem:
* Báo chí vẫn là một trong những ngành công nghiệp có lời nhất, được hỗ trợ phần lớn bởi vị trí gần như độc quyền ở hầu hết các thành phố.
* Báo ngày tiếp tục nắm giữ phần lợi nhuận lớn nhất từ quảng cáo, chi phối tin tức địa phương và các thị trường quảng cáo.
Những thống kê mâu thuẫn đó minh họa cho vấn đề mà các tờ báo phải đối mặt: có lợi thế trong một lúc nào đó, nhưng bị thách thức về lâu dài.
Không chỉ một mình báo in bị đe dọa. Những đối thủ truyền thống cũng gặp phải khó khăn nghiêm trọng. Mạng lưới truyền hình, đối thủ chính của báo in cả về lợi nhuận quảng cáo lẫn khán giả, đã trải qua những lúc tài chính lao đao. Việc sáng lập ra những mạng lưới truyền hình Mỹ lớn hơn (của Fox và Warner Brothers) đã phân chia khán giả, và sự phát triển của các kênh truyền hình cáp đã phân khán giả thành những thị phần nhỏ hơn. Các kênh truyền hình cáp gây khó khăn thật sự cho công nghệ truyền hình; không giống mạng lưới truyền hình, nó được xác định vị trí thật lý tưởng để hướng khán giả về phía các nhà quảng cáo bởi vì nó tập trung vào những mảng thông tin nổi bật (thể thao, sức khỏe và làm đẹp, trẻ em...). Cũng như báo in, mạng lưới truyền hình có thể cung cấp thông tin đến một lượng lớn khán giả, nhưng không phải là lượng khán giả liên kết mà các nhà quảng cáo thèm muốn. Đài phát thanh dễ hướng tới nhiều khán giả hơn nhưng ảnh hưởng của nó đối với công nghệ truyền thông, nếu tính về doanh thu quảng cáo, thì rất nhỏ.
Tạp chí, giống đài phát thanh và truyền hình cáp, cung cấp công chúng cho các nhà quảng cáo, nhưng với chi phí ngày càng tăng cao. Về lâu dài, giống như báo, tạp chí bị đe dọa bởi việc tăng chi phí sản xuất, và việc phát hành hoàn toàn phụ thuộc vào bưu phí đang leo thang. Cho nên, không có một phương tiện truyền thông hiện tại nào xác định được vị trí lý tưởng cho tương lai, và tất cả đều đối đầu với những thử thách rất lớn. Có lẽ điều này lý giải tại sao những người điều hành phương tiện truyền thông đang đổ xô kết hợp và hội tụ.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

Nhà báo hiện đại - Tính chính xác, công bằng và khách quan


Dẫu có đổi thay gì thì có hai truyền thống vẫn luôn là cốt lõi. Thứ nhất đó là đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi mọi nhà báo phải chính xác và công bằng. Thứ hai, điều khó giải thích nhưng lại dễ bị công kích, là truyền thống về tính khách quan.
Tổng hòa được hai truyền thống này chính là điều mà các phóng viên và biên tập viên luôn cố gắng thực hiện trong công việc của mình.
Tính chính xác
Bob Woodward – phóng viên, tác giả và biên tập viên của tờ The Washington Post – đã bào chữa tại tòa cho một bài điều tra đăng trên tờ báo của ông. Bài báo này, theo lời ông, là “một phiên bản tốt nhất của sự thật có thể đạt được”.
Một mục tiêu nghe còn to tát hơn nữa chính là cái “sự thật” không cần thêm thắt. Dù bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với lý tưởng, Bob Woodward đã nhận ra thực tế cuộc sống và sự hạn chế của nghề báo. Cho dù hàng thế kỷ tranh luận, các nhà triết học và thần học vẫn chưa thống nhất được “sự thật” là gì. Dẫu cho có sự nhất trí về câu hỏi cơ bản đó đi nữa thì làm sao Giáo hội Công giáo Roma và tổ chức sinh đẻ có kế hoạch lại cùng nhất trí với “sự thật” về việc nạo phá thai, hay một vị tổng thống và đối thủ của ông ta lại cùng nhất trí về “sự thật” của tình trạng kinh tế nước Mỹ?
Trong chuyện làm báo hàng ngày ở Mỹ, những tranh cãi như thế thường nảy sinh trong các phe phái ở tất cả các khía cạnh, trên các bài xã luận và các bài phê bình. Vai trò của các phóng viên chỉ đơn giản là phát hiện và viết lại sự thật. Vấn đề là chuyện đó hóa ra lại không đơn giản như vậy.
Đôi khi thu thập sự thật lại rất khó khăn. Một hội đồng tuyển chọn hiệu trưởng mới cho một trường đại học thông báo rằng danh sách ứng viên đã được rút lại còn năm người, nhưng tên của năm vị đó thì không được nêu ra. Các thành viên hội đồng đã hứa là phải giữ bí mật. Bạn làm thế nào để biết được tên năm ứng viên đó? Bạn có nên thử không?
Nhiều khi cũng khó mà biết sự thật có ý nghĩa gì. Một tòa án tối cao tiểu bang từ chối xử vụ các nhà lập pháp nghi ngờ tính hợp hiến của việc giới hạn chi tiêu của bang này. Tòa chỉ nói rằng không hề có “tranh cãi đáng phân xử”. Điều này có ý nghĩa gì? Ai thắng? Phán quyết này là tin tốt hay tin xấu, và giành cho ai?
Nhiều khi cũng chẳng biết đâu là sự thật. Sau cả năm trời nghiên cứu, một ủy ban của tổng thống cho rằng không có nạn đói hoành hành ở nước Mỹ. Kết luận này có phải là sự thật không? Hay sự thật chỉ là những gì mà ủy ban này đã nói? Và làm thế nào bạn có thể xác định là ủy ban này có đúng hay không?
Nghề báo hàng ngày vẫn tồn tại nhiều rắc rối. Thông thường, khi làm phóng viên thì bạn chỉ có vài giờ, nhiều thì vài ngày, để nghiên cứu càng nhiều sự kiện càng tốt. Dù thời gian rất hạn hẹp, bạn vẫn có thể tích lũy thông tin thành một câu chuyện khoảng 2.000 chữ để rồi nghe thông báo là chỉ có đủ chỗ đăng hay thời lượng phát sóng cho khoảng 1.000 chữ hoặc ít hơn. Báo trực tuyến – loại hình truyền thông mới – cung cấp thêm nhiều diện tích đăng bài nhưng không có thêm thời gian cho việc tường thuật.
Khi bạn quan tâm đến những thực tế và hạn chế này, bạn có thể nhận thấy rằng việc đạt được “một phiên bản tốt nhất của sự thật” thôi quả là thử thách đối với bất kỳ nhà báo nào.
Làm sao bạn biết là đạt được mục đích? Hiếm khi có một câu trả lời cụ thể. Tuy nhiên, có hai câu hỏi mà những nhà báo có trách nhiệm nên đặt ra cho mọi bài viết trước khi tự hài lòng, đó là: Nó có chính xác không? Nó có công bằng không?
Sự chính xác là yếu tố quan trọng nhất đối với bất kỳ bài báo nào, lớn hay nhỏ, dài hay ngắn. Phải chính xác trong từng chi tiết. Mọi cái tên phải được phát âm thật chuẩn xác, mọi câu trích dẫn phải đúng với những gì đã được nói, mọi dãy số phải được cộng lại. Và chừng đó vẫn còn chưa đủ. Bạn có thể lấy các chi tiết đúng và vẫn gây ngộ nhận nếu bạn không đặt đúng bối cảnh. Cùng một câu nói có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào tình huống nó được phát ngôn và lối diễn đạt trong khi nói. Hoàn cảnh và mục đích cũng ảnh hưởng đến hành động. Bạn sẽ không bao giờ có “phiên bản tốt nhất của sự thật” nếu không tường thuật chính xác các chi tiết và bối cảnh.
Bạn cũng không tiếp cận được sự thật nếu thiếu sự công bằng. Chính xác và công bằng liên quan đến nhau, nhưng chúng không là một. Đối với tin tức, có nhiều quan điểm khác nhau để nhìn nhận một sự kiện hay vấn đề. Mỗi quan điểm sẽ có thể lý giải khác nhau về cái gì đang diễn ra và nó có ý nghĩa gì. Nghề báo cũng như thể thao, ngay cả với phóng viên cẩn thận nhất hay vận động viên giỏi nhất cũng có khi phạm sai lầm.
Sự công bằng trong nghề báo đòi hỏi bạn phải tường thuật sự kiện dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Hiếm khi chỉ có một, thường là hai hoặc hơn. Sự công bằng đòi hỏi bạn phải dành cho kẻ đang bị công kích hoặc nghi vấn tính chính trực trong bài báo của mình thật nhiều cơ hội để họ có thể phản hồi. Trên hết, sự công bằng đòi hỏi bạn phải nỗ lực để tránh thành kiến trong cách tường thuật và bài viết của mình.
Định góc độ cho tin tường thuật
Quan điểm hay góc nhìn mà bạn sử dụng để tường thuật sẽ định ra góc độ cho tin được tường thuật. Chẳng hạn, những bài báo về những thay đổi xã hội sâu rộng tràn đầy các trang báo và màn hình những năm 1960 có thể được tường thuật theo góc độ của những trật tự được thiết lập hoặc theo các mục tiêu và cá nhân ủng hộ sự thay đổi. Tùy thuộc vào góc nhìn, hai bài viết về phong trào quyền công dân sẽ khác nhau về giọng điệu và thậm chí cả nội dung.
Do ảnh hưởng của trào lưu báo chí công dân, việc chọn góc nhìn vấn đề đã trở thành trung tâm thảo luận của nghề báo. Quan điểm chung của báo chí công dân là phải xem xét chính trị và đời sống công chúng một cách rộng rãi hơn, từ quan điểm của một công dân hơn là của một nhà lãnh đạo. Những bài báo dựa trên quan điểm công dân như thế sẽ thay đổi không chỉ các bài viết về chiến dịch vận động chính trị mà còn là các bài về sự phát triển kinh tế, tranh chấp quy hoạch đất đai, hay hầu như mọi vấn đề. Những bài báo viết từ góc nhìn của một cử tri sẽ khác hẳn những bài viết theo góc nhìn của ứng cử viên.
Mỗi câu chuyện đều có thể nhìn từ nhiều góc độ. Không có góc độ nào là hoàn hảo. Mỗi phóng viên nên chọn góc độ nào có thể phản ánh câu chuyện đầy đủ và trung thực nhất.
Tin khách quan
Những quy tắc mà các nhà báo chính thống tuân thủ nhằm đạt được “một phiên bản tốt nhất của sự thật” thường được đúc kết thành tính khách quan. Tính khách quan được các nhà báo, sinh viên, giảng viên ngành báo chí ở Mỹ xem như một nguyên tắc nghề nghiệp. Nó được các nhà báo hàng đầu đề cao như là một lý tưởng cốt yếu, dù không dễ đạt được. Ngược lại, những người phê phán như nhà xã hội học Gaye Tuchman đã xem tính khách quan chỉ là “một nghi thức chiến lược” nhằm che giấu vô số tội lỗi nghề nghiệp trong khi đưa tin không kỹ lưỡng và gây ngộ nhận.
Michael Schudson, trong tác phẩm kinh điển Discovering the News (Khám phá Tin tức), đã dò theo sự phát triển của nhu cầu báo chí khách quan từ thời kỳ hậu Thế chiến I, khi các học giả và các nhà báo đều dựa vào các phương pháp và ngôn ngữ của khoa học để tìm hiểu cái thế giới đang bị đảo lộn bởi ảnh hưởng của Freud và Marx, bởi sự xuất hiện những thế lực kinh tế mới và sự suy thoái những giá trị truyền thống. Tính khách quan trông cậy vào những sự kiện có thể quan sát được, nhưng nó cũng là phương pháp giúp các bài tường thuật bám sát hiện thực và không bị tác động bởi các định kiến của nguồn tin, tác giả hay độc giả. Bản thân tính khách quan là một giá trị, một lý tưởng.
Schudson viết: “Các nhà báo đặt niềm tin vào tính khách quan, tới mức họ tin bởi vì họ muốn tin, cần phải tin, do bị thúc bách bởi khao khát của một con người bình thường muốn tìm kiếm lối thoát cho lòng hoài nghi và thái độ thụ động đã hằn sâu trong nhận thức”.
Schudson và Robert Karl Manoff – hai người đã tuyển chọn các bài tiểu luận quan trọng về nghề báo thành cuốn Reading the News – đã mô tả sự mâu thuẫn lý tưởng báo chí khách quan và cách thực thi nghề báo:
Phóng viên không chỉ thuật lại câu chuyện mà còn tạo ra nó.
Dĩ nhiên, điều này là tối kỵ trong nghề báo. Bạn chỉ tường thuật, chứ bạn không tạo dựng. Bạn đưa ra các câu hỏi AI?, CÁI GÌ?, KHI NÀO?, ở ĐÂU?, TạI SAO? và NHƯ THế NÀO?, lắng nghe câu trả lời, và trở về nhà. Tuy nhiên, làm sao phóng viên biết được khi nào cần nêu những câu hỏi cơ bản của báo chí ấy, và hỏi ai? Làm sao để phóng viên biết được khi nào câu hỏi sẽ được trả lời. Ai được coi là cái “ai” có giá trị thông tin? Sự việc hay dữ kiện nào sẽ là câu trả lời thích đáng cho câu hỏi “cái gì”? Ngay cả với những câu hỏi đơn giản nhất, “khi nào”, “ở đâu”, làm sao phóng viên biết được liệu câu trả lời có đầy đủ không?
Tóm lại, những điều răn dạy trông có vẻ đơn giản của nghề báo đã định sẵn cách thức truy vấn, phương pháp diễn dịch những câu trả lời, một hệ thống các quy tắc chọn lựa đối tượng và vấn đề cần hỏi...
Những nhà báo giỏi nhất luôn ghi nhớ những điểm hạn chế này, cho dù điều đó hiếm khi được nêu ra trong tòa soạn. Điều mà một xã hội tự do cần ở các nhà báo chính là “sự giải thích trung thực, toàn diện, thông minh các sự kiện của thời đại trong một bối cảnh làm cho các sự kiện ấy có ý nghĩa”. Mục đích của chương này là giúp bạn biết các nhà báo hôm nay và tương lai hiểu rõ nhu cầu đó như thế nào, làm sao họ đáp ứng được điều đó, và sự phức tạp của nhiệm vụ này. Phần còn lại cuốn sách sẽ giúp bạn phát triển các kỹ năng cần trang bị để đương đầu với thử thách. Hiếm có thử thách nào lại quan trọng hay đem lại nhiều khích lệ như nghề báo.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

Nhà báo hiện đại - Nghề báo mới


Những người sáng lập nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã sớm nhận ra báo chí là điều tối cần thiết cho một nền dân chủ lành mạnh. Đó là lý do tại sao họ đã thêm vào quyền tự do của báo chí song song với quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng và hội họp vào Hiến pháp nước này.
Hai trăm năm sau, một số nhà báo sâu sắc nhất của nước này lại nhận ra rằng một nền dân chủ lành mạnh là điều tối cần thiết cho báo chí. Nhận thức đó đã tạo nên một trong những bước phát triển quan trọng nhất và gây nhiều tranh cãi nhất để định hình nền báo chí Mỹ trong thời khắc chuyển giao sang thế kỷ mới.
Được gọi là “báo chí cộng đồng” hay là “báo chí công dân”, trào lưu làm báo mới này dựa trên hai ý tưởng: Thứ nhất, nền dân chủ không được thực thi tốt như lẽ ra nó phải thế. Thứ hai, những nhà báo có trách nhiệm phải cố gắng làm gì đó để cải thiện tình trạng này. Ít có nhà quan sát chính trị nào sẽ phản bác quan điểm đầu tiên. Một số học giả thậm chí đưa ra kết luận rằng chúng ta đang mất dần ý thức cộng đồng cơ bản. Tuy nhiên, quan điểm thứ hai đánh thẳng vào kiểu làm báo trung lập truyền thống, với thái độ cách biệt của phóng viên với những sự kiện mà họ tường thuật. Jay Rosen, một lý thuyết gia hàng đầu về nền báo chí công dân, đã đưa ra một loạt so sánh về những niềm tin trái ngược nhau của các nhà báo truyền thống và nhà báo cộng đồng. Đây là hai điều minh họa cho sự cách biệt đó:
Nhà báo cộng đồng tin rằng: Đời sống công chúng sẽ tạo ra tác động, và báo chí có vai trò tác động công chúng để tạo ra tác động.
Nhà báo truyền thống tin rằng: Nếu đời sống công chúng sẽ tạo ra tác động thì cũng tốt, nhưng vai trò của chúng ta không phải là tác động công chúng và thật nguy hiểm khi nghĩ rằng chúng ta có thể làm điều đó.
Nhà báo cộng đồng tin rằng: Nhiều thứ cơ bản phải thay đổi, bởi vì nền báo chí bây giờ không có hiệu quả.
Nhà báo truyền thống tin rằng: Các truyền thống báo chí đã tốt lắm rồi, nếu có điều gì cần phải cải thiện thì đó chính là cách hành nghề.
Một nhà báo, người được đa số tôn vinh – hay buộc tội – vì đã đưa những nguyên tắc trên ra thực hiện, là Davis “Buzz” Merritt, sau này trở thành chủ bút tờ The Wichita Eagle ở Kansas. Merritt ngán ngẩm chất lượng nghiệp vụ lộ rõ trên tờ báo của mình cũng như những tờ khác trong suốt cuộc bầu cử năm 1988. Ông lo lắng khi thấy báo chí ở Wichita và khắp đất nước thiếu hẳn sự quan tâm và can dự vào đời sống công chúng. Vì thế, ông bắt đầu một loạt thử nghiệm báo chí mà sau này thành nền móng cho cả một trào lưu.
Bắt đầu từ năm 1989, những nhà báo ở Wichita – và không lâu sau đó là hàng chục thành phố khác trên khắp nước Mỹ – đã làm những cuộc thăm dò để xem đâu là những vấn đề mà công dân cho rằng các cuộc vận động tranh cử nên đề ra, chứ không cho phép các ứng cử viên áp đặt ý kiến trong những cuộc tranh luận công khai nữa. Họ đã tài trợ tổ chức những diễn đàn công cộng để thảo luận nhiều vấn đề từ chính trị cho đến chủng tộc. Thậm chí có nhiều trường hợp họ còn phân công hoặc tuyển thêm phóng viên để giúp các công dân công kích đủ loại vấn đề ở địa phương. Các tổ chức phi lợi nhuận như Pew, Kettering và Knight đã đóng góp tiền bạc và trợ giúp về mặt chuyên môn. Nghiên cứu đã cho thấy nhiều dự án báo chí công dân dường như đã làm thay đổi thái độ của mọi người đối với đời sống cộng đồng và đối với các tổ chức báo chí.
Phái chỉ trích, trong đó có chủ bút của các tờ báo hàng đầu như The Washington Post và The New York Times, lo ngại rằng những nhà báo cộng đồng sẽ giành được sự ủng hộ nhưng có thể lại mất đi một điều còn quan trọng hơn – sự độc lập. Theo họ, cơ quan báo chí không thể vừa đá bóng vừa thổi còi. Nhà báo chỉ nên đóng vai trò trọng tài. Khi một tờ báo tổ chức một cuộc thảo luận công khai, thay vì chỉ tường thuật lại một cuộc thảo luận được tổ chức bởi các cơ quan khác, thì báo chí đã trở thành cầu thủ trong trận bóng trong khi chỉ nên làm người cầm còi quan sát từ xa. Khi những nhà báo hỏi xem công dân muốn biết điều gì, thay vì cho họ biết những gì mà nhà báo nghĩ rằng họ cần biết, báo chí đã đánh mất chức năng giáo dục và trở thành kẻ phục tùng.
Những tranh cãi và những thử nghiệm dường như vẫn đang tiếp diễn. Sự bất đồng đó bản thân nó cũng đã minh họa cho giá trị của sự tự do.
Dĩ nhiên không có gì mới về chuyện các nhà báo xem xét lại việc làm của mình. Chẳng hạn như trong những năm 1960, các nhà báo bắt đầu phải học theo dõi tin tức từ những phong trào xã hội và chính trị đang làm biến đổi đời sống ở Mỹ. Có lẽ đầu tiên là phong trào đòi quyền công dân. Sau đó lại xuất hiện nhiều lực lượng mạnh mẽ của phụ nữ, thanh niên, người tiêu dùng, người bảo vệ môi trường, người đồng tính và nhiều thành phần khác. Chủ trương và cách làm của mỗi phong trào không giống nhau, nhưng nhìn chung chúng đã bắt các nhà báo phải từ bỏ niềm tin cậy cố hữu vào những nguồn tin chính thống từ các quan chức đắc cử, giới quan liêu trong chính quyền và những nhà lãnh đạo kinh tế. Martin Luther King Jr., Gloria Steinem, Ralph Nader, Cesar Chavez, Barry Commoner – không ai trong số họ làm chính trị hay giữ một vị trí quyền lực kinh tế nào, nhưng họ và hàng chục người như họ đã thu hút được sự chú ý và những dòng tít lớn của báo chí Mỹ. Những nhà báo phải học cách tìm kiếm, đối phó và đánh giá những nhân vật tạo thời cuộc, những người không hề có cái mác “quan chức” truyền thống và những người nhiều khi hết sức ngờ vực các nhà báo chính thống.
Rồi bạn sẽ phải làm những việc giống như vậy. Bạn không thể theo dõi hết những mối quan hệ chỉ bằng việc phỏng vấn ông thị trưởng (dĩ nhiên, trừ phi bạn viết về mối quan hệ của chính nhân vật đó, nhưng đó lại là chuyện khác). Bạn sẽ không thể hình dung được các trung tâm mua sắm nếu chỉ nói chuyện với người phụ trách báo chí của Bộ Thương mại. Để dò được những cách làm mới tin tức, phóng viên phải rút tỉa từ những mối quan tâm rộng rãi và từ nền tảng kiến thức bao quát.
Những nhà báo của thế kỷ 21 cần phải hiểu biết nhiều hơn thế hệ trước về nhiều vấn đề ngày càng gia tăng, bao gồm sinh vật học (AIDS chưa thể chữa được), xã hội học (những tộc người thiểu số đang trở thành đa số), thống kê học (thế giới quanh ta là thế giới định lượng) và những kiến thức khác giúp lý giải được cái thế giới ngày càng phức tạp và tương quan chặt chẽ. Bạn mới chỉ bắt đầu một tiến trình học hỏi thôi, nếu bạn thật sự xem nghề báo là sự nghiệp, thì bạn phải đeo đuổi việc học đó không ngừng.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

Nhà báo hiện đại - Công chúng mới


Công chúng đó là ai? New Directions for News – một nhóm chuyên gia về nhật báo – đã làm một cuộc điều tra mới mẻ và khám phá ra cái gọi là “nước Mỹ mới”. Dân số của nước Mỹ mới sẽ gồm có:
* 51% là phụ nữ
* 30% là những người trẻ tuổi, từ 18 đến 34 tuổi
* 25% người dân tộc thiểu số và các nhóm dân nhập cư
* 21% người trên 50 tuổi
* 15% người từ 5 đến 17 tuổi
Công ty Gannett, nơi đã xuất bản hơn 100 tờ báo, thiết lập một nhóm chuyên trách để tạo ra một tờ báo kiểu mẫu sẽ hấp dẫn những độc giả thế kỷ 21. Tin tức viết cho lớp độc giả mới, theo báo cáo của nhóm này, phải có những tính chất sau:
Hình thức bắt mắt: Tờ báo phải nhiều màu sắc, hấp dẫn, sinh động, thỏa mãn mắt người xem cũng như thách thức trí óc họ hoạt động.
Thông tin dày đặc nhiều tầng nhiều lớp: Những cột văn bản không đủ. Đồ thị, hình ảnh, biểu đồ, danh sách và phần tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau sẽ thỏa mãn được những bạn đọc đói tin tức bổ ích mà lại bị áp lực về thời gian.
Tính tương tác: Cho bạn đọc biết cách cùng tham dự vào tờ báo, cách phản hồi tin tức, cách liên hệ với chuyên gia, với độc giả khác hay với chính tờ báo.
Tính liên quan: Cho những độc giả hoài nghi thấy tin tức thiết thực với họ như thế nào. Đưa những con người gần gũi với độc giả vào bài báo của bạn. Thuật lại tác động và tầm quan trọng của tin tức.
Tính đa dạng: Xã hội có nhiều mặt hơn là những gì tin tức phản ánh. Hãy chắc rằng bạn bao quát được toàn bộ cộng đồng.
Ngoài những nội dung chuẩn mực của tin tức địa phương và thế giới, nhóm chuyên trách này đã đề xuất những chủ đề có thể giúp người đọc trong đời sống hằng ngày – bao gồm tin tức về mua sắm và tiêu dùng, về Internet và kỹ thuật, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình, sự hòa hợp giữa tâm hồn và cơ thể, và tạo ra được những cộng đồng.
Richard Saul Wurman viết một cuốn sách mà mọi nhà báo nên đọc đi đọc lại – cuốn Information Anxiety (Mối lo thông tin). Trong đó, Wurman nói rằng hầu hết tin tức có thể chia ra thành ba loại: tin mang lại hy vọng, tin về những chuyện lạ lùng tới mức vô lý và tin về các thảm họa. Nhà báo nói chung hay nhấn mạnh đến những chuyện lạ lùng và thảm họa, còn người đọc thì lại đói niềm hy vọng. Bạn sẽ thấy rằng tờ báo kiểu mẫu nói trên sẽ mang đến nhiều tin tức lạc quan hơn so với những gì mà báo chí hay những chương trình thời sự truyền thống thường cung cấp. Làm báo theo kiểu này còn được gọi là “báo chí giải pháp” (solution journalism). Thay vì chỉ vạch rõ những vấn đề của chúng ta – điều có thể sẽ làm tăng thêm cảm giác cách biệt và tuyệt vọng – các nhà báo có thể xác định những giải pháp khả dĩ giải quyết những vấn đề đó, cung cấp những ví dụ về những giải pháp và nói cho độc giả biết có thể tìm hiểu thêm thông tin ở đâu hay làm thế nào để tham dự vào.
Wurman còn nêu ra một điều khác mà các nhà báo bây giờ mới bắt đầu hiểu ra: Thông tin không thôi chưa phải là sản phẩm có giá nhất. Sự cảm thông là điều thiết yếu để truyền thông có hiệu quả. Khi nhà báo tập trung tường thuật những vấn đề có liên quan và hữu ích thì rất có thể họ đã chuyển tải được sự cảm thông. Không có điều đó, độc giả sẽ bị trôi dạt và có khi bị chết đuối giữa biển thông tin ngày càng thăm thẳm.

THE MISSOURI GROUP biên soạn

Nhà báo hiện đại - Công chúng thay đổi, báo chí thay đổi


Người phán quyết tối hậu cái gì là quan trọng và câu chuyện nào đáng được thuật lại chính là những người tiêu thụ báo chí, là công chúng. Công chúng đang thay đổi, và điều đó đòi hỏi những nhà báo cũng phải thay đổi.
Một trong những điểm mới quan trọng mà báo trực tuyến dành cho bạn – độc giả – là khả năng cho phép bạn chọn lựa thông tin ở đâu và khi nào bạn muốn. Với một máy tính và một cổng vào Internet, bạn không phải chờ đợi bản tin buổi tối trên tivi hay khi phát hành tờ tin buổi sáng. Bạn có thể truy cập các nguồn tin trên mạng bất kể giờ nào dù ngày hay đêm. Bạn có thể tìm hiểu cặn kẽ các chi tiết và đi sâu vào vấn đề chừng nào bạn muốn, hoặc bạn có thể chọn cách bỏ qua tất thảy ngoài những chủ đề khái quát. Loại hình truyền thông dựa vào máy tính, nói cách khác, đã để cho người đọc tự đảm trách thông tin. Bạn sẽ hiểu rõ hơn vấn đề này ở chương 2. Còn bây giờ hãy chú ý đến độc giả và những gì họ cần và họ muốn.
Hội Chủ bút nhật báo Mỹ (American Society of Newspaper Editors) đã bảo trợ cho một đề án nghiên cứu với ý định thiết lập một tờ báo của thế kỷ 21. Đây là bản tóm tắt những gì các nhà nghiên cứu kết luận về những đòi hỏi và nhu cầu của độc giả:
* Độc giả muốn có nhiều thông tin trong tờ báo của họ.
* Độc giả muốn tin tức phải có liên quan và tập trung vào họ và cộng đồng quanh họ.
* Độc giả không muốn báo của họ phớt lờ những gì đang diễn ra ở nơi khác trong nước và trên thế giới.
* Độc giả không bị lừa phỉnh bởi những mánh lới quảng cáo hay cách trình bày bay bướm. Họ chỉ chấp nhận chúng khi nào chúng có vẻ liên quan đến bài viết, làm cho bài báo dễ “nuốt” hay làm cho thông tin dễ hiểu hơn. Nếu những mánh lới câu khách đó quá lộ liễu hay cách trình bày quá khác lạ, người đọc sẽ vứt bỏ chúng vì đã làm họ không được thoải mái khi đọc báo.
* Độc giả muốn những tin tức thiết thực và hữu ích để giúp họ hoàn thiện cuộc sống. Họ cần những mẹo vặt và những lời khuyên. Vì lối sống của độc giả thay đổi, các chủ bút phải tạo ra những tờ báo đi sâu vào đời sống.
Chỉ cần thay đổi từ ngữ một tí, danh sách những đòi hỏi và nhu cầu này cũng có thể áp dụng cho khán thính giả của phát thanh - truyền hình. Chính sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt để tăng thời lượng phát sóng và lôi kéo sự chú ý của khán giả mà nghiệp vụ phát thanh - truyền hình cũng buộc phải không ngừng thay đổi cho phù hợp với nhu cầu không ngừng thay đổi của những đối tượng công chúng cũng không ngừng thay đổi. Hãy thử xem trong một khoảnh khắc có bao nhiêu là nguồn thông tin và giải trí đến với bạn. Đó là báo in, dĩ nhiên rồi. Đó là tạp chí và sách. Đó là hàng tá kênh truyền hình cáp. Và trên Internet, có biết bao trang web đan cài vào nhau trên khắp thế giới để ta khám phá.
Những người làm báo theo lối cũ là những người gác cửa thông tin, lựa chọn từ nhiều nguồn tin phức tạp, vứt bỏ nhiều và chỉ cho một số được xuất hiện trên trang báo và màn ảnh. Những nhà báo của thế kỷ 21 là những hoa tiêu lão luyện. Họ sẽ tiếp tục tổ chức và lý giải thông tin, nhưng công chúng của họ sẽ trông đợi và đòi hỏi nhiều hơn là những gì chỉ để cho vừa trang báo hay màn ảnh nhỏ. Người ta bị áp lực về mặt thời gian nên không thể lãng phí cho những thông tin không liên quan hay không hữu ích. Và khi họ cần biết nhiều hơn, họ phải được biết ngay lập tức. Thế là nhà báo phải rút tỉa từ nhiều nguồn tin, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu trên máy tính và các nguồn tham khảo trên Internet cho công việc của họ, và chỉ đường dẫn lối cho độc giả và người xem cùng đồng hành.
Khi xem xét những nguồn tin rộng khắp hiện nay, bạn thấy nhà báo thời nay đang đứng ở vị trí của những thủy thủ 500 năm trước – đứng bên lề của những điều chưa biết. Cũng như những hoa tiêu thời ấy phải vạch ra đường đi để dẫn lối cho những ai ít phiêu lưu hơn, các nhà báo phải tìm hiểu về các xa lộ thông tin và những ngõ ngách thông tin, rồi dẫn độc giả đến các thông tin mà họ cần.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

NHÀ BÁO HIỆN ĐẠI - Tin tức là gì



Tiêu chí mà các biên tập viên và phóng viên chuyên nghiệp dùng để xác định tin tức là gì có thể được tóm gọn lại như sau: Có liên quan, hữu ích, gây được sự quan tâm.
Những tiêu chí đó được áp dụng rộng rãi nhưng mỗi nhà báo hay mỗi cơ quan báo chí đều sử dụng chúng theo một bối cảnh đặc thù để nhấn mạnh ý nghĩa theo cách riêng. Cái bối cảnh ấy do chính công chúng tạo ra.
Hãy xét ví dụ sau:
Con số thống kê mới nhất cho thấy Hạt Boone là một trong những khu vực gia tăng dân số nhanh nhất của bang. Một diễn đàn công cộng vào tối thứ Ba sẽ cho bạn cơ hội được bày tỏ quan điểm về cách định hướng tình trạng gia tăng đó.
Diễn đàn này, buổi đầu tiên trong một loạt do Ủy ban Hạt bảo trợ, sẽ phát động một tiến trình “nhìn về tương lai” nhằm chia sẻ những quan điểm đối với tương lai của Hạt. Đó là ý tưởng của bà Ủy viên Hội đồng Karen Miller, người đã giải thích ý tưởng của mình như sau: “Chúng ta hoặc là để cho dân số gia tăng rồi sau đó mới có phản ứng, hoặc là nói lên quan điểm về một tương lai mong muốn cho Hạt của chúng ta và sau đó nỗ lực để đạt được điều đó”
Những quan chức khác của Hạt không tin ý tưởng này là cách sử dụng thời gian và tiền bạc thật khôn ngoan. “Tôi chưa từng nghe một ý kiến nào lập dị như vậy,” – Thư ký Hạt Biff Barner, người đối lập với Miller trong cuộc tái bầu cử nói mỉa – “Karen chắc là đi trước thời đại”.
Bị Miller thuyết phục, bất chấp những chỉ trích từ phía Barner và những người khác, Ủy ban đã thuê những nhà tư vấn để dẫn dắt các cuộc đối thoại với công chúng và sau đó sẽ tổng hợp những đề xuất liên quan đến chính sách dựa trên ý kiến của công dân. Những đề xuất này sẽ được Ủy ban thảo luận trong những diễn đàn sắp tới trước khi thực thi bất kỳ hành động nào.
Diễn đàn “nhìn về tương lai” đầu tiên sẽ diễn ra lúc 7 giờ chiều thứ Ba tại văn phòng Ủy ban ở Trung tâm hành chính Hạt.
Hãy xem xét giá trị của bài báo này đối với độc giả. Tính liên quan là hiển nhiên. Tương lai cho cộng đồng là việc cần phải làm. Công chúng được một cơ hội để góp phần định hướng tương lai đó. Bài báo này hữu ích bởi vì nó thảo luận những vấn đề quan trọng và bởi vì nó xuất hiện trước khi có những diễn đàn công khai. Loại bài báo này mang đến cho độc giả thông tin cần thiết và kịp thời để họ có thể tham gia vào quá trình quyết nghị nếu họ muốn. Bài báo gây được quan tâm nhờ sự liên quan và hữu ích của nó.
Bạn đang đọc một bài báo đăng trên báo in. Trên truyền hình, một bài viết như thế sẽ có ít chi tiết hơn, nhưng bạn sẽ nhìn thấy đoạn băng quay cảnh những nhân vật chính đang tranh luận. Còn ở báo trực tuyến, một bài báo như thế sẽ bao gồm cả chi tiết và đoạn phim – cộng thêm sự kết nối dễ dàng đến những bài báo liên quan và những tư liệu đằng sau vụ việc. Cách trình bày sẽ khác nhau ở mỗi loại hình, nhưng những giá trị của tin tức đã làm cho nó trở nên quan trọng và kỹ năng tường thuật sự việc cũng như những yêu cầu kể lại câu chuyện sẽ có sự giống nhau. Những chương sau sẽ giúp bạn học được những kỹ năng đó. Còn bây giờ, hãy xem xét những giá trị của tin tức ở tầm sâu hơn chút nữa, về những tiêu chí nhà báo dùng để xác định câu chuyện nào xứng đáng được thuật lại.
Sự liên quan, hữu ích và gây được quan tâm là những định hướng khái quát để thẩm định giá trị thông tin của bất kỳ sự kiện, vấn đề hay nhân vật nào. Cùng với những tiêu chí rõ ràng đó, nhà báo còn tìm kiếm những yếu tố đặc trưng hơn tiềm tàng trong mỗi câu chuyện. Quan trọng nhất là những yếu tố sau:
Tác động – Đây là một cách khác để đo mức độ liên quan và hữu ích. Có bao nhiêu người bị ảnh hưởng bởi một sự kiện hay một ý tưởng? Nó ảnh hưởng đến họ nghiêm trọng như thế nào?
Xung đột – Đây là một đề tài muôn thuở trong mọi câu chuyện, dù được thuật lại bởi báo chí, văn chương hay kịch nghệ. Những cuộc đấu tranh giữa người với người, giữa các quốc gia hay với sức mạnh thiên nhiên đều lôi cuốn người ta đọc. Xung đột chính là một yếu tố cơ bản của đời sống, các nhà báo phải tỉnh táo trước cám dỗ muốn làm cho câu chuyện tăng thêm kịch tính hoặc đơn giản hóa thái quá.
Mới lạ – Đây là một yếu tố khác phổ biến cả trong báo chí lẫn các loại hình khác. Con người hay sự kiện có thể gây được hấp dẫn và do đó có giá trị thông tin chỉ vì yếu tố đặc biệt hay kỳ quái.
Danh tiếng – Tên tuổi tạo nên tin tức. Tên tuổi càng lớn chừng nào thì bài báo càng quan trọng chừng đó. Những người dân thường luôn bị kích thích tò mò bởi việc làm của những người giàu có và nổi tiếng.
Gần gũi – Thông thường, người ta thích thú và quan tâm đến những gì diễn ra gần nơi họ ở. Khi họ đọc hay nghe một tin trong nước hay tin thế giới, họ thường muốn biết nó có liên can gì đến cộng đồng của chính họ.
Cấp thời – Tin đòi hỏi phải mới. Nếu tin thích đáng và hữu ích, nó hẳn phải đúng lúc. Ví dụ như khi viết về một vấn đề mà hội đồng thành phố phải đối mặt trước khi nó được quyết định thì sẽ có ích hơn là sau đấy. Những bài báo kịp thời cho người ta cơ hội được tham dự vào các vụ việc chung hơn là chỉ làm một khán giả.
Lưu ý rằng những yếu tố trên gợi ra hai điều quan trọng về tin. Thứ nhất, không phải mọi tin tức đều nghiêm túc, đều là chuyện sống chết. Nghề báo được miêu tả như “cuộc đối thoại của văn hóa với chính nó”. Cuộc đối thoại đó gắn kết thành nền văn hóa từ những chuyện kể về tội ác, chính trị cho tới các sự kiện trên thế giới, tất nhiên rồi; nhưng nó cũng bao gồm những câu chuyện của đời sống hằng ngày. Nó bao gồm cả những chuyện khôi hài và chuyện tầm phào. Tất cả những điều đó đều có thể là tin tức. Thứ hai, tin tức không chỉ là việc góp nhặt lại sự kiện. Thuật lại một tin thường cũng có nghĩa là kể lại một câu chuyện. Tính tường thuật, tính nhân văn, kịch tính của câu chuyện là nghệ thuật của báo chí. Để tập hợp những sự kiện trong bài viết của mình, nhà báo sử dụng nhiều kỹ thuật giống như những kỹ thuật mà nhà xã hội học, nhà khoa học chính trị và nhà sử học sử dụng. Để viết bài báo cho ai cũng hiểu được sự kiện trong đó, nhà báo thường sử dụng kỹ thuật của những người cầm bút khác như nhà văn hay nhà biên kịch.

THE MISSOURI GROUP biên soạn

NHÀ BÁO HIỆN ĐẠI - Nghề báo và nhà báo





Tin tức trong thế kỷ 21 không còn giống như trước. Ngay cả cách thu thập thông tin cũng khác. Chúng ta đang tham dự một cuộc họp lúc 10h sáng tại tòa soạn tờ Sarasota Herald-Tribune. Tổng biên tập Janet Weaver chủ trì cuộc họp.
Như hầu hết các buổi họp tòa soạn, cuộc họp này mang tính thân mật – các biên tập viên bỡn cợt hay chế nhạo việc làm của nhau khi họ thảo luận về những công việc nghiêm túc trong ngày. Khi ai đó đề cập đến một tin địa phương quan trọng, người quản trị website phụ trách báo điện tử yêu cầu được cung cấp những tài liệu thiết yếu sẽ được đưa đến với độc giả qua mạng chứ không được xuất bản trên báo in.
Cách đó vài bước trong phòng tòa soạn, phóng viên điều tra Tom Bayles không vui lắm. Anh sắp hoàn tất một dự án kéo dài nhiều năm – điều tra về một vấn đề nghiêm trọng ở Florida – tình trạng xâm thực bờ biển và những nỗ lực tốn kém để khắc phục. Công việc cho nhật báo của anh coi như xong, nhưng anh vẫn phải tổng hợp phần tư liệu bổ sung cho bài viết trên mạng. Tuy nhiên, vấn đề thật sự của anh là một chuyên mục truyền hình sẽ phát qua hệ thống truyền hình cáp của Herald-Tribune suốt ba ngày loạt bài này được đăng tải. Anh tiếc là đã bỏ lỡ hai ngày tập huấn về những kỹ năng truyền hình cơ bản mà tờ báo thường tổ chức cho khối nhân sự báo in. May sao, cứu tinh đã ở cạnh bên. Phòng tòa soạn của ban truyền hình nằm ở gian đối diện bàn làm việc của anh.
Trên đường ra khỏi phòng tòa soạn, chúng tôi gặp cô Jill Obrecht Barton, tốt nghiệp trường báo chí được hai năm và bây giờ đang phụ trách mảng giáo dục cho Herald-Tribune. Jill cảm thấy đã chuẩn bị tốt cho công việc mới, nhưng cũng nói thêm: “Nếu được làm lại từ đầu, tôi sẽ học môn Truyền hình Căn bản ở trường”.
Những gì chúng ta bắt gặp ở Sarasota chính là mô hình của một tòa soạn hội tụ (convergence newsroom) hay còn gọi “tòa soạn tích hợp”. Đó là nơi gặp gỡ của các loại hình truyền thông trong cùng một tòa soạn, thậm chí trong cùng một nhà báo, để tận dụng những sức mạnh khác nhau của cả báo in, báo hình lẫn báo mạng. Mô hình tòa soạn hội tụ đã làm thay đổi cách nhà báo tường thuật và cách độc giả tiếp nhận tin tức. Janet Weaver lý giải tầm quan trọng của sự hội tụ một cách đơn giản: chỉ báo in không thôi, Herald-Tribune đến tay 50% số người sống trong và ngoài Sarasota. Cộng thêm báo mạng và kênh truyền hình, và nó vươn ra đến 90%. Khát vọng của bà là đạt đến số lượng độc giả tối đa cho tờ báo của mình.
Dù làm báo bằng niềm đam mê hay chỉ vì lợi nhuận, những tòa soạn riêng rẽ và những tập đoàn truyền thông khổng lồ đang hội tụ lại với nhau. NBC và Microsoft, AOL và Time Warner (bản thân đã là sản phẩm của nhiều loại hình truyền thông sáp nhập thành) đang vượt qua những rào cản truyền thống để cung cấp thông tin trên cả báo in, truyền hình và báo trực tuyến. Những phóng viên mới vào nghề như Jill Barton hay những người kỳ cựu như Tom Bayles đều phải học cách làm tin mới và đối mặt với những sức ép mới trong việc truyền thông đa phương tiện. Nghề báo ở thế kỷ 21 buộc các nhà báo phải liên tục thay đổi chính mình.
Ngay cả bản thân tin tức cũng đang thay đổi. Báo chí, phát thanh và truyền hình – đôi khi làm việc cùng nhau – ngày càng trở thành những người tham gia lẫn người quan sát những vấn đề của công chúng. Phong trào có tên gọi “báo chí công dân” (civic journalism) hay “báo chí cộng đồng” (public journalism) ở Mỹ chính là để hưởng ứng quan điểm thừa nhận rằng báo chí và nền dân chủ phải kết hợp với nhau thì cả hai mới cùng tồn tại. “Những nhà báo công dân” tìm mọi cách để giúp đỡ cho nền dân chủ được thực thi hơn là chỉ đứng đằng sau và tường thuật những thất bại của nó. Không phải tất cả các nhà báo đều đồng tình với triết lý “báo chí công dân”, nhưng hầu như tất cả đều đồng ý rằng vai trò của nhà báo trong thế kỷ 21 sẽ còn tích cực hơn và thậm chí quan trọng hơn hiện nay.
Al Neuharth, người làm thay đổi diện mạo báo chí khi sáng lập tờ USA Today năm 1980, đã đưa ra một viễn cảnh về tin tức kiểu mới như sau: “Tôi tin tưởng và hy vọng rằng báo chí trong tương lai có thể và sẽ mang đến những thông tin hữu dụng – nhưng quan trọng hơn, chúng phải đáng tin cậy – và có chỗ đứng trong đời sống hằng ngày của mọi người, cho dù thông tin nằm ở trong phòng giám đốc hay trong quầy rượu, trong lớp học hay trên cánh cửa cái tủ lạnh”.
Khi được hỏi ông trông đợi tin tức sẽ được cung cấp như thế nào, Neuharth nói: “Tôi nghĩ tương lai của tin tức là ở trên cả báo in, trên truyền hình truyền thống và chắc chắn là trên báo trực tuyến. Đó là sự kết hợp của tất cả những điều nói trên”.
Dẫu có thay đổi, có những điều vẫn giữ như cũ. Thứ nhất là vai trò trung tâm của báo chí trong một xã hội dân chủ. Thứ hai là tầm quan trọng của tính chính xác và sự công bằng khi báo chí giữ vai trò đó. Thứ ba là bạn hay bất cứ ai sẽ trở thành nhà báo phải không ngừng đòi hỏi bản thân phải làm chủ được những kỹ năng cơ bản của việc tường thuật và viết báo – bất kể bạn sử dụng công cụ gì hay bạn đưa tin đến công chúng bằng phương tiện nào.

THE MISSOURI GROUP biên soạn

12/12/08

Truyền thông và ngoại giao văn hóa

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng và vị thế ngày càng nâng cao của đất nước, việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá - một trong 3 trụ cột quan trọng của Ngoại giao đang trở thành nhu cầu tất yếu đối với Việt Nam. Thông tin và Truyền thông là một trong những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong công tác đẩy mạnh ngoại giao văn hoá.
Tuần Việt Nam trích giới thiệu tham luận tại Hội nghị ngoại giao tuần qua của Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Đỗ Quý Doãn.

Với một đất nước có bề dày hàng nghìn năm văn hiến, ngoại giao văn hoá sẽ tạo dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam tươi đẹp, phát triển năng động; mến khách, có một nền văn hoá độc đáo, đa dạng, giàu bản sắc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Ảnh: VNN

Ngoại giao văn hóa có vai trò hết sức quan trọng, vì nó vừa là nền tảng tinh thần, vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam; bổ trợ rất hữu hiệu cho các trụ cột khác, tạo thành một chỉnh thể chính sách đối ngoại phát huy tốt nhất sức mạnh dân tộc và kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại.

Đối với một nước vừa và nhỏ, muốn tồn tại và phát triển thì càng phải phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, qua đó nhân thêm sức mạnh của mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giành được sự coi trọng của các nước và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.
Bàn về Ngoại giao văn hóa
Ngoại giao “phở” tại xứ sở của phở
Ngoại giao văn hóa và hình ảnh "người Việt xấu xí"
"Mảnh đất ngoại giao văn hóa mới chỉ xới lên"
Nâng hàm lượng văn hóa trong ngoại giao
Cuộc đua trình diễn vẻ đẹp "tâm hồn quốc gia"

Cần hiểu rõ khái niệm văn hoá và chức năng văn hoá khi thực hiện nhiệm vụ ngoại giao văn hoá. Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.

Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá gồm những chức năng như: Giáo dục, Nhận thức, Thẩm mỹ, Giải trí. Vì sự phát triển và hoàn thiện con người và xã hội là mục tiêu cao cả của văn hoá.

Tiếp xúc và giao lưu văn hoá là cốt lõi của ngoại giao văn hoá. Giao lưu văn hoá là sự trao đổi qua lại trong một quá trình lâu dài, trực tiếp giữa hai nền văn hoá của hai cộng đồng người khác nhau. Giao lưu văn hoá là sự vận động thường xuyên của văn hoá. Nó không chỉ là động lực phát triển của văn hoá mà còn là động lực của của sự tiến hoá xã hội.

Truyền thông và đại chúng trong việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá

Lực lượng truyền thông đại chúng rộng lớn ở Việt Nam như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điển tử. Với khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ, rộng lớn các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò to lớn trong việc nâng cao dân trí, xây dựng các chuẩn mực lối sống, đạo đức, ứng xử tốt đẹp, bồi dưỡng nhân cách làm phong phú thêm đời sống văn hoá của toàn xã hội góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá.

Thông tin đại chúng là phương tiện truyền bá văn hoá, giáo dục văn hoá, bồi dưỡng năng lực sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi người. Trong quá trình công bố, truyền tải, lưu giữ đồng thời cũng làm chức năng tiêu thụ các sản phẩm văn hoá do các nghệ sĩ, nghệ nhân và quần chúng sáng tạo nên. Đồng thời, góp phần quảng bá giới thiệu hình ảnh, đất nước con người, văn hoá Việt Nam với bạn bè thế giới và giới thiệu văn hoá các dân tộc trên thế giới với công chúng Việt Nam.
Ngoại giao văn hoá là con đường ngắn nhất, là cầu nối liên kết các dân tộc trên thế giới gần lại với nhau. Vì vậy, thông tin truyền thông phải đi trước một bước, phải thực sự là người lính xung kích mở đường cho việc thực hiện các nhiệm vụ quan trọng khi tiến hành ngoại giao văn hóa.

Tăng cường quảng bá, giới thiệu trên các phương tiện thông tin của Việt Nam và các nước thông tin, hình ảnh về đất nước, con người và văn hoá của các quốc gia trên thế giới để giúp cho nhân dân mỗi nước hiểu rõ hơn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc, làm tiền đề cho công tác ngoại giao văn hóa.

Thường xuyên mời và trao đổi các đoàn phóng viên báo chí của các loại hình báo chí trực tiếp đến Việt Nam tiếp xúc, khai thác và giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng của nước bạn những thông tin và hình ảnh của đất nước để giúp nhân dân các nước hiểu rõ hơn đất nước, con người và văn hóa Việt Nam.

Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam ở các nước để chủ động hơn nữa việc tổ chức mời, trao đổi, cung cấp thông tin để các phương tiện thông tin nước ngoài hiểu đầy đủ, toàn diện và có thái độ khách quan khi thông tin về tình hình nước ta.

Nâng cao hơn nữa trình độ mọi mặt, sự hiểu biết về văn hóa của các dân tộc trên thế giới cho đội ngũ nhà báo Việt Nam, góp phần làm tốt hơn vai trò là người xung kích trong lĩnh vực thông tin tuyên truyền về ngoại giao văn hoá.

Phát huy lợi thế của báo chí điện tử, trang tin điện tử trên mạng internet để làm nhiệm vụ tuyên truyền về văn hoá và ngoại giao văn hoá. Tranh thủ các kênh để đưa báo chí, sách Việt Nam ra nước ngoài. Chủ động tham gia các Hội chợ sách báo quốc tế để quảng bá, giới thiệu văn hoá Việt Nam.

* Đỗ Quý Doãn (
Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông)

Nghề báo từ góc nhìn của một người ngoại đạo

Nghề gì cũng đòi hỏi những quy tắc, chuẩn mực đạo đức cần tuân theo. Nhưng người ta nói, nghề báo – nghề “làm dâu trăm họ” - cần đạo đức nghề nghiệp gắt gao hơn những nghề khác vì nghề này tác động, ảnh hưởng tới nhiều vấn đề, nhiều người và đôi khi cả nhiều thế hệ nữa. Được mệnh danh là “quyền lực thứ tư”, vì thế những người viết báo càng cần phải có trách nhiệm hơn với chính những bài viết của mình, với những quyền lực mà ngòi bút đem tới cho họ, độc giả gửi gắm họ. Tôi là một người không thuộc “làng báo”, hay nói chính xác hơn cũng thi thoảng viết một vài bài nghiệp dư, xin mạo muội đưa ra đây một vài nhận định cá nhân về cái nghề rất vẻ vang mà cũng rất khó này:

Nhà báo làm PR đúng hay sai?

Cũng có những bài viết tranh luận về việc nhà báo viết bài PR cho các doanh nghiệp. PR bản thân nó không sai. Doanh nghiệp muốn tạo dựng hình ảnh thông qua các hoạt động cộng đồng là hoàn toàn chính đáng. Họ được quyền quảng bá hình ảnh của mình với người tiêu dùng, với xã hội. Thế nhưng làm thế nào để PR vừa đủ đó là cái tâm và cái tầm của người viết bài, cũng như người biên tập chịu trách nhiệm xuất bản bài viết đó. Các bài PR nên viết đúng, viết đủ và tường thuật sự việc, hoạt động tránh sử dụng những thổi phồng, tô vẽ. Có lẽ, nên đưa thêm khái niệm bài viết PR riêng thành một khái niệm phổ cập tới các độc giả - hoặc thống nhất giữa các báo để đưa thêm một dòng tít nhỏ ở trên hoặc ở dưới dòng chữ “Chờ sự phản hồi từ độc giả”. Như vậy, độc giả có thể có những phản hồi ngược chiều nếu thông tin sai sự thật để tòa soạn kiểm chứng.

Tách biệt giữa đưa tin kinh tế và bài viết nhận định

Hiện nay, cùng với sự phát triển của đất nước, sự hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới đã khiến báo, tạp chí, báo điện tử, các chương trình truyền hình, phát thanh không ngừng gia tăng, đặc biệt là báo chuyên ngành về knh tế.

Tuy nhiên, bên cạnh nhiều tờ báo chuyên viết về kinh tế đã tạo uy tín và phát triển không ngừng cả về nội dung cũng như hình thức thì một số khác đã không duy trì được lượng độc giả và đánh mất bản sắc. Hiện tượng các báo viết sao chép bài của nhau không nhiều nhưng có thể có nhiều bài na ná nhau. Còn báo điện tử thì việc báo này trích dẫn của báo khác là rất thường gặp.

Do vậy, có lẽ cần có những sự tách biệt trong những bài viết về kinh tế hiện nay trên các báo để có thể giúp chính tờ báo phát triển và cũng là giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với thông tin mà không bị choáng ngợp bởi một rừng thông tin kinh tế đầy rẫy trên các báo nhưng lại lặp đi lặp lại. Có thể tạm chia tin kinh tế thành các dạng sau để người đọc có thể tiếp cận tốt nhất:

Thứ nhất, về những mẩu tin kinh tế, tường thuật sự việc, hiện tượng kinh tế,… nên chăng viết ngắn gọn, súc tích để người đọc vừa không mất thời gian nắm bắt ngay ý chính, vừa nhanh chóng tiếp cận thông tin “sơ cấp” và tự đưa ra các nhận định, đánh giá theo quan điểm chủ quan của mình. Những thông tin thống kê “thô” về số liệu kinh tế, hoặc các thống kê có liên quan tới kinh tế được công bố, không đòi hỏi việc xử lý, xào xáo của phóng viên. Chỉ đơn giản là viết và đưa tin tới người đọc chân thực, đầy đủ và nhanh chóng.

Loại thứ hai là về những bài phỏng vấn chuyên gia, bài bình luận, nhận định, phân tích của các chuyên gia, tổ chức, ban ngành, …thì nên được lựa chọn kỹ càng tránh những trường hợp viết sai, viết thiếu, viết phiến diện. Đôi khi việc đó gây những hậu quả liên quan tới lợi ích của số đông người khác. Và vì thế người ta nói viết báo kinh tế… cũng nguy hiểm không kém đưa tin về chiến sự, điều tra tội phạm.

Tránh xung đột lợi ích – giữ tính trung lập

Những nhà báo phóng sự điều tra về tội phạm, đưa tin ở các vùng chiến sự ác liệt thường gặp nguy hiểm, đôi khi bị đe dọa tới cả tính mạng thì ai cũng biết. Nhưng viết bài về kinh tế cũng nguy hiểm không kém. Nguy hiểm là ở chỗ, viết không khéo thì cũng ảnh hưởng tới nhiều vấn đề. Nhà báo nắm “quyền lực thứ tư” nên đòi hỏi sự công tâm, chính trực rất lớn, họ phải mô tả sự thật một cách trung thực và độc lập. Đặc biệt những nhà báo viết về kinh tế, tài chính. Viết bài về thị trường chứng khoán nhưng vẫn phải làm sao để giữ tính trung lập, né tránh những xung đột về lợi ích khi mà họ cũng đầu tư cổ phiếu. Điều đó đòi hỏi trình độ và đôi khi là cả cái tâm của người viết cũng như của người biên tập.

Bình loạn… của nhiều chuyên gia

Nhiều khi đọc các bài viết có ý kiến phân tích, nhận định của các báo, thấy tên chuyên gia này, chuyên gia nọ mà không thấy giới thiệu học hàm, học vị, đơn vị công tác, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn gì. Độc giả thắc mắc, không hiểu ai phong cho họ chức danh “chuyên gia” để đưa ra nhận định, đánh giá. Thôi thì có lẽ, có người gọi thì ắt là cũng phải “tay ghê gớm” rồi.

Tò mò, tôi đi tìm hiểu danh tính của một trong những chuyên gia kinh tế - tài chính – ngân hàng – chứng khoán đã “danh nổi như cồn” suốt một dạo thị trường chứng khoán ấm nóng hừng hực. Trên khắp các diễn đàn, cũng nhiều người tò mò như tôi. Để rồi, tất cả cùng xem một bức ảnh và cuối cùng vẫn chưa ngã ngũ xem chuyên gia chứng khoán ấy là ai trong số ba người nằm trong bức ảnh trên.

Điều này, làm tôi nhớ tới bộ phim “Bảo hiểm tình yêu” của Hồng Kông đang chiếu trên VTV3 có chỉ dẫn cho người xem:”Nếu bạn nghi ngờ nhân cách của một đại lý bảo hiểm, bạn có thể vào mạng và tra cứu danh tính, nơi làm việc cũng như các sản phẩm bảo hiểm mà họ được phép bán”. Tôi lại liên tưởng tới Việt Nam, nên chăng, chúng ta nên có một kênh dành cho các chuyên gia như thế, phải đăng ký làm chuyên gia, phải thi, và được cấp chứng chỉ… chuyên gia! Khi đọc các nhận định của chuyên gia nào đó, bạn sẽ vào mạng và tra xem chuyên gia đó là ai. Tất nhiên đó chỉ là giả sử, bởi nhiều lúc “tranh tối, tranh sáng”, có vẻ việc trở thành chuyên gia cũng không phải là quá khó và từ thực tế đó, đặt ra cho các nhà báo một câu hỏi: Làm thế nào để thẩm định ai là chuyên gia, ai chưa phải là chuyên gia để đưa vào bài viết cho hợp lý.

Không ngừng nâng cao trình độ

Có những bài viết gần đây đã từng gây xôn xao dư luận, khiến các độc giả đánh dấu hỏi rất lớn về trình độ của các nhà báo. Tất nhiên, báo chí là cần có thông tin đa chiều để đánh giá một sự việc nhưng những bài viết mang tính nhận định, đánh giá thì càng yêu cầu người viết chau chuốt và cẩn trọng. Tôi từng đọc một bài tâm sự của một nhà báo nước ngoài chuyên viết về vấn đề tài chính. Ông nói rằng, ông được giao viết chuyên mục về tài chính, chứng khoán vì ông giỏi hai ngoại ngữ thế nhưng lại chưa bao giờ học kinh tế, kế toán hay tài chính. Ông đã phải đọc rất nhiều xung quanh những đề tài đó, đọc hiểu các báo cáo tài chính, dữ liệu kinh tế, chứng khoán, các văn bản pháp lý liên quan. Nếu như các nhà báo kinh tế không ngừng học hỏi, tích lũy kinh nghiệm thì hẳn các bài viết của họ sẽ “chín” hơn, sẽ sâu hơn, sẽ chuẩn hơn, tránh những việc không đáng có trên.

Cần nhiều những gương nhà báo kinh tế viết hay và bản lĩnh

Chân dung một nhà báo kinh tế giỏi sẽ như thế nào? Tôi thử hình dung họ: một phong cách năng động, một tu duy sắc bén, một tinh thần ham hiểu biết và kỹ năng viết và một niềm yêu nghề viết. Những bài viết của họ luôn thể hiện kiến thức, lại vừa có thực tế, vừa có cái tâm, và phải hấp dẫn cũng như khiến người đọc cảm thấy thật thích thú. Một bài viết hay, một bài viết thành công là một bài được độc giả đọc và hưởng ứng.

Đọc quy định về đạo đức nghề báo, muốn đủ tầm đứng trong hàng ngũ những người viết báo kinh tế thì tôi sẽ phải học hỏi không ngừng về kiến thức cũng như đạo đức nghề.
Thu Phương

2/9/08

Nhà báo trẻ: Năng động hay chộp giật?


Có một cuộc cãi vã, hay nói cho đúng hơn là tranh cãi, về một thế hệ nhà báo trẻ hiện nay. Một bên thì ca tụng đến mây xanh, nói rằng các nhà báo trẻ giờ đây tự tin và năng động hơn nhiều so với cha anh họ. Một bên thì ngao ngán thở dài, lo lắng về một lối làm báo chộp giật, phi tiêu chuẩn với nhiều phóng viên không hề viết vì độc giả.


Lật giở những trang báo ngày, lướt xem những trang báo mạng, những người quan tâm đến sự phát triển của báo chí có thể có nhiều suy nghĩ lẫn lộn. Rõ ràng là phong cách tác nghiệp của các phóng viên Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21 này khác hẳn với lối làm báo thời bao cấp, nhưng bảo là chất lượng hơn hẳn, thì chưa chắc.

Bên cạnh rất nhiều bài phóng sự hay, những bài phỏng vấn sắc sảo, những thông tin nhanh chóng là những mớ "hổ lốn" không thể gọi là thông tin báo chí. Người ta chạy đua nhau để đưa tin về những vụ quan chức này bị quay cảnh nóng, thày giáo kia gạ gẫm học sinh, anh công an tát người dân thường hay mấy tên yêu râu xanh hãm hại các em nhỏ. Các báo cũng chạy đua nhau bỉ báng người này, vùi dập người kia nhưng khi mọi chuyện xoay theo chiều hướng khác lại thì liên tục đăng những bài viết như thể mình.... vô can trong những tin trái ngược trước đó.

Điều đáng nói là những thông tin nửa vời không đến nơi đến chốn này được tung lên để nhằm tăng lượng truy cập, nâng số người mua báo chứ hình như không phải vì muốn làm cho xã hội trong sạch hơn. Dẫn chứng rõ ràng là những thông tin đó cứ được tung ra "hồn nhiên," thậm chí chỉ dưới dạng tin đồn, hoặc chưa được kiểm chứng thấu đáo, và dẫu đúng hay sai thì loại thông tin này cũng rất hời hợt, nói ra rồi bỏ đó mà thôi.

Dường như rất nhiều phóng viên trẻ không được đào tạo về những nguyên tắc cơ bản nhất của nghề báo - một nghề đầy trách nhiệm.

Báo chí đòi hỏi kinh nghiệm thực tế nhiều hơn là tài năng bẩm sinh, bởi vậy những người không lăn lộn, không va vấp với cuộc đời - với thái độ trung thực và lương tâm nghề nghiệp - thì khó mà rèn ngòi bút được.
Trong một vài lần nói chuyện với các phóng viên trẻ, tôi nói rằng xã hội luôn dành sự trân trọng đặc biệt với một số nghề và gọi những người làm nghề đó bằng "thầy" - thầy giáo, thầy thuốc - vì những nghề đó có vai trò quan trọng. Nhưng nghề báo cũng có vai trò quan trọng không kém, xét ở phương diện nhất định. Những bài giảng của một thầy giáo có thể đến với hàng trăm, hàng ngàn người trong cả quãng đời làm việc, một sai lầm của bác sĩ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, hay sinh mạng của một con người. Nhưng với nghề báo, chỉ một bài, thậm chí một câu viết, có thể được tiếp nhận bởi hàng triệu người, và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của rất nhiều người.

Nhận xét của tôi là thế hệ các nhà báo 7x, 8x hiện nay cực kỳ năng động, họ lại được trang bị những kiến thức mới mẻ của xã hội, những công nghệ mới nhất để tác nghiệp, và việc tham khảo báo chí của các nước khác thì quá thuận lợi. Sự tự tin của họ là điều quá tốt, bởi mỗi người đều phải tự tin vào chính mình, và yếu tố này càng cần thiết ở nhà báo. Có người gọi đây là sự tự kiêu/kiêu căng - nghe thì nó có vẻ thiên về khía cạnh "xấu" nhưng thực ra ở vào đúng hoàn cảnh thì nó cũng không phải là tệ. Người giỏi có quyền tự kiêu ở một chừng mực nào đó (khi đó ta gọi là "kiêu hãnh"), cốt sao nó đừng biến thành "ngạo mạn" là được.

Nhưng điều đó không có nghĩa là các nhà báo trẻ hiện nay có thể dễ dàng giỏi hơn những nhà báo lớn tuổi. Báo chí đòi hỏi kinh nghiệm thực tế nhiều hơn là tài năng bẩm sinh, bởi vậy những người không lăn lộn, không va vấp với cuộc đời - với thái độ trung thực và lương tâm nghề nghiệp - thì khó mà rèn ngòi bút được (nói cho văn vẻ chứ bây giờ chúng ta dùng computer hết).

Tôi chứng kiến rất nhiều phóng viên, nhà báo lợi dụng vị thế của mình để lên mặt, thậm chí để kiếm chác, tôi cũng biết nhiều người ngoại ngữ mới thuộc loại "tàm tạm" nhưng dịch "tá lả" trên báo, truyền tải thông tin sai mà chả ai biết. Tôi cũng thấy có không ít tờ báo với nhiều bài báo không hề đặt mục tiêu phục vụ công chúng lên hàng đầu mà chỉ muốn câu khách, giật gân, bôi xấu. Những hiện tượng này không phải ngày xưa không có mà vì hiện nay chúng ta có nhiều tờ báo hơn và nhiều nhà báo hơn, vì thế dễ thấy hơn.

Nhưng âu đó cũng là chuyện bình thường. Xã hội luôn có mặt xấu mặt tốt, con người cũng có mặt phải mặt trái. Vấn đề là làm sao tăng mặt tốt lên, và chuyện chán nản than vãn không bao giờ là một giải pháp tích cực.

Gần đây tôi có một buổi nói chuyện với các biên tập viên trẻ trong cơ quan, sau khi đề xuất một loạt những ý tưởng cải cách quy trình làm việc để đạt hiệu quả cao nhằm trả lời băn khoăn các biên tập viên thì một số không ít nói rằng "chẳng chuyển biến gì được đâu." Sếp của họ, cũng tham gia buổi nói chuyện, thì cảm ơn tôi rồi khẳng định "những gì chúng ta đang làm là quá tốt rồi!"

Ôi chao, vậy thì còn trao đổi hay trò chuyện làm gì! Nếu chúng ta không xắn tay góp sức vào một phong trào chung, không tự nâng mặt tốt trong chính con người mình và cố gắng tạo tác động lan tỏa trong tập thể xung quanh thì chả bao giờ tạo được sự thay đổi nào. Một nhà báo tự thấy mình có nhận thức đúng đắn nhưng vì "buồn" với tình trạng chung mà trở nên thờ ơ hoặc thậm chí bỏ nghề báo thì nghĩa là tỉ lệ nhận thức đúng trong giới báo chí lại càng giảm đi, hay nói cách khác là tạo điều kiện cho "tỉ lệ xấu" tăng lên.

Nói ra thì có vẻ sách vở, nhưng quả thực nó là như vậy đấy. Mỗi nhà báo nếu làm theo đúng những tiêu chuẩn quy định về sự chuyên nghiệp của nghề thì cũng là một cách để giảm bớt cái xấu.

Vì báo chí là một quy trình chứ không phải là sản phẩm cá nhân, nên việc này sẽ dễ thực thi. Một phóng viên viết ẩu nhưng có biên tập viên "tận tâm" thì bài đó vẫn có thể sửa được, một biên tập viên chủ động làm sai lệch nội dung một bài báo để phục vụ lợi ích cá nhân nhưng người Tổng Biên tập nghiêm sẽ không bao giờ để lọt và bài viết đó cũng sẽ bị phê phán bởi cả tập thể tòa soạn.

Như tôi đã từng nêu quan điểm, hãy coi nghề báo cũng như bao nghề khác, và chúng ta sẽ thấy mình "rất đỗi bình thường" như mọi người làm bất cứ nghề gì. Tuy nhiên, cái nghề báo lại đòi hỏi trách nhiệm xã hội nặng nề hơn, vì thế mỗi lời ăn tiếng nói đều phải thận trọng. Trách nhiệm thì nặng hơn nhưng lợi ích (vật chất) lại chẳng có gì nhiều hơn - phải chấp nhận điều đó thì mới làm báo được!

(minhlq)
http://www.vietnamjournalism.com/module.html?name=News&file=article&sid=2586

Báo chí và doanh nghiệp: Cầu cạnh hay cầu nối!

Báo chí và doanh nghiệp: Cầu cạnh hay cầu nối!

[24/06/2008 - minhlq - Vietnam Journalism]


“Kính nhi viễn chi”, cần nhưng khó chịu, thậm chí đôi khi ghét nhau cay đắng…đến bao giờ quan hệ giữa báo giới và doanh nghiệp mới thực sự hết cảnh bằng mặt, không bằng lòng.


Nỗi niềm “xả rác”

“Ám ảnh” - đó là từ được các biên tập viên, thư ký tòa soạn các báo nhắc nhiều nhất khi nói về bản thông cáo báo chí (TCBC) từ các doanh nghiệp chuyển tới tòa soạn qua các kênh khác nhau. Anh Đ., thư ký toà soạn nhật báo trong nhóm có số lượng phát hành lớn nhất cả nước cho biết, đại đa số TCBC gửi tới đều nhằm đánh bóng tên tuổi, sản phẩm của công ty, “toàn những thông tin chẳng hữu ích gì cho bạn đọc”- anh nhận xét thêm, “những thông tin đó mà đưa lên mặt báo chỉ khiến bạn đọc.. chửi. Thực tâm có muốn hỗ trợ cũng không thể ”.

Nhiều phóng viên kinh tế cho biết thêm, khổ nhất là tiếp xúc với nhân viên PR “tay mơ” của các doanh nghiệp tư duy theo kiểu đưa “phong bì” là được đăng tin. “Các em PR này hồn nhiên nghĩ thông tin của doanh nghiệp mình giống như thánh chỉ, kiểu gì các báo cũng phải đăng. Không đăng thì đổ tại phóng viên khó khăn hay đòi hỏi phong bì nặng hơn. Họ không chịu hiểu, chỉ cần đó là thông tin hữu ích cho bạn đọc và đáng tin cậy thì không cần nhờ vả hay phong bì chúng tôi cũng đưa tin!”. Phóng viên Tri Anh, báo Tuổi Trẻ nói.

Ngược lại, những thông tin mà các tòa soạn cần khai thác để có tiếng nói khách quan nhất thì lại thường xuyên bị các doanh nghiệp “né”. Anh Minh Đức, nhà báo chuyên trách mảng tranh chấp lao động gần hai chục năm cho biết, “nhất là khi xảy ra tranh chấp lao động, thay vì thông tin cho báo chí chính xác để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cả hai bên thì chủ doanh nghiệp lại coi báo chí như đối tượng bới móc, nói xấu, thậm chí là tác nhân kích động tranh chấp tại doanh nghiệp”. Kết quả là anh và các đồng nghiệp luôn tự tìm kiếm câu trả lời qua các kênh khác nhau để tránh thông tin một chiều. Dĩ nhiên, sẽ có những câu trả lời không thực sự có lợi cho doanh nghiệp. “Đó là do doanh nghiệp đã tự từ bỏ quyền được thông tin của họ,” anh Đức nhận xét.

Muôn mặt với … nhà báo

Đã quá quen thuộc với việc phải o bế các nhà báo hay phóng viên trước mỗi sự kiện dù lớn hay nhỏ của công ty, chị B. - giám đốc đối ngoại của một công ty kinh doanh hàng tiêu dùng tại TP.HCM thường có cảm giác bế tắc khi phải làm việc với các anh chị có cái mác “nhà báo”.

Các sự kiện của công ty, hay những sự cố nhỏ như hàng hoá do chậm trễ tại khâu giao nhận chưa thể giao cho các đối tác bán lẻ; hay chuyện một thành viên hội đồng quản trị tình cờ có mặt tại một quán bar có tiếng trong thành phố về “em út” … tất cả đều được “nhà báo” đưa tin một cách “tận tình” nhất.

Quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp chỉ có thể có dựa trên sự thông hiểu, tôn trọng lẫn nhau.
“Nghề nào cũng cần có ĐỨC hay ĐẠO nghề” - anh Thanh T., chủ tịch hội đồng quản trị một tập đoàn đầu tư lên tiếng khi được hỏi về quan hệ của công ty anh với báo giới. Là chủ doanh nghiệp tại một đất nước đang có nhiều biến động về kinh tế, bản thân anh cũng như nhiều thành viên hội đồng quản trị khác đang phải bươn trải để lái con thuyền doanh nghiệp vượt qua muôn vàn khó khăn. Nhiều lúc anh không biết phải trông chờ sự thông cảm của báo giới đến chừng mực nào nữa. Không ít lần, chuyện riêng của một nhân sự chủ chốt tại công ty bị biến thành “sự kiện” trên mặt báo - anh T. ngậm ngùi - ngòi bút đúng là vũ khí, có thể xây dựng một nhân vật điển hình, và cũng có thể giết chết một doanh nghiệp. “Vì thế, doanh nghiệp luôn phải đứng ở tư thế cầu cạnh đối với các nhà báo,” anh T. thở dài.

“Mệt nhất là khi cơ quan báo chí nào đó đứng ra tổ chức sự kiện vận động doanh nghiệp tài trợ hoặc kêu gọi làm từ thiện mà không rõ ràng,” chủ tịch một hiệp hội ngành bày tỏ, “thậm chí đó là tờ báo mình chưa từng thấy xuất hiện trên thị trường bao giờ. Không hỗ trợ thì cũng không được mà ủng hộ thì không thoải mái”. Không ít lần ông và các doanh nghiệp trong hiệp hội phải bỏ tiền ủng hộ cho những chương trình không được tổ chức hoặc không mang lại hiệu quả từ thiện nào cho xã hội.

Đại diện công ty truyền thông cho một tập đoàn điện tử - viễn thông còn thẳng thừng cho biết, để có thể đưa các thông tin mà tập đoàn cần quảng bá cũng như có thể xử lý nhanh các sự cố, khủng hoảng bất ngờ xảy ra, công ty chấp nhận trả lương tháng cho một nhóm nhà báo để có thể tác động nhanh nhất khi cần thiết. “Dĩ nhiên là đừng bao giờ để mấy vị này phật lòng, sẽ không hay chút nào và dễ phát sinh hậu quả không kiểm soát được,” anh này cho biết.

Để là cầu nối hiệu quả

Rõ ràng là có những lý do từ hai phía để mối quan hệ giữa nhà báo – doanh nghiệp luôn bất ổn. Thay vì là cầu nối đưa các doanh nghiệp tới với bạn đọc hoặc đại diện cho dư luận để bảo vệ quyền lợi của bạn đọc thì báo chí nhiều lúc đã bị biến thành nơi doanh nghiệp phải cầu cạnh để có được điều mình mong muốn.

Ông Huỳnh Dũng Nhân, Tổng Biên tập tạp chí Nghề Báo TP.HCM cho rằng: “Phải có sự tôn trọng, biết lắng nghe và hợp tác với nhau thì mối quan hệ này mới hiệu quả”. Theo ông Nhân, không phải lúc nào báo chí cũng “chĩa mũi dùi” vào doanh nghiệp một cách dò xét, bới móc mà luôn nhìn rất thiện cảm. Chỉ khi nào doanh nghiệp coi và sử dụng báo chí như một công cụ để tiếp tay cho hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc vì lợi nhuận thuần tuý mà tìm cách làm ăn thiếu trung thực thì báo chí mới phản ứng gay gắt để bảo vệ bạn đọc. “Đó là trách nhiệm của người làm báo,” ông Nhân nói.

Còn theo Tiến sỹ Phạm Thị Thu Hằng, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ của VCCI thì cần phải để báo chí hiểu đúng về việc doanh nghiệp đang làm. Doanh nghiệp không nên né tránh báo chí mà cần chủ động thông tin cho báo chí. Thậm chí phải thường xuyên thông tin, sẵn sàng hợp tác với báo chí ngay cả khi xảy ra cố. Có như vậy, mới tránh được tình trạng đưa thông tin không đúng, lệch lạc về doanh nghiệp hoặc sự kiện. Quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp chỉ có thể có trên sự thông hiểu lẫn nhau.

(Doanh Nhân)

Báo chí Việt Nam thu 10.000 tỉ đồng/năm

Kết luận tại hội thảo "Báo chí với doanh nghiệp, doanh nghiệp với báo chí” ngày 6-10, ông Hồng Vinh - phó trưởng Ban Tuyên giáo trung ương - cho biết: các ý kiến thảo luận đều khẳng định việc hợp tác giữa báo chí và doanh nghiệp là "đòi hỏi tất yếu khách quan" chứ không đơn thuần ý muốn từ một phía nào.

Theo vụ trưởng Vụ Báo chí Ban Tuyên giáo Nguyễn Thế Kỷ, cả nước hiện có hai đài truyền hình có doanh thu mỗi năm đạt 1.200-1.300 tỉ đồng (năm nay có thể đạt 1.500 tỉ); 15 đài truyền hình địa phương và khu vực có doanh thu trên 100 tỉ đến vài trăm tỉ đồng/năm; gần mười tờ báo in có doanh thu 350-600 tỉ đồng/năm.

Tổng doanh thu của các cơ quan báo chí nước ta ít nhất là 10.000 tỉ đồng/năm, chủ yếu từ nguồn quảng cáo. Như vậy sự hợp tác giữa báo chí và doanh nghiệp là hai chiều, thiết thực, hiệu quả.

Tuy nhiên, ông Kỷ cũng dẫn kết quả một cuộc điều tra "nhỏ nhưng khá chân thực, khách quan" đáng để báo chí suy ngẫm: hơn 40% doanh nghiệp được hỏi đánh giá rất tích cực về báo chí; 40% khác vừa có ý kiến tương tự vừa băn khoăn phàn nàn về những hạn chế của báo chí; khoảng 20% còn lại không muốn trả lời hoặc ngại "đụng" báo chí.

(Theo Tuổi Trẻ)