Người đời thường nói chẳng sai, “thành công tạo ra thành công và cả lòng ganh tị”. Trên chặng đường thăng tiến, chắc hẳn bạn đã vượt qua nhiều bạn bè và thậm chí cả kẻ thù ngấm ngầm mà bạn không hề biết rõ.
Đối với kiểu “đồng nghiệp đố kỵ”, bạn cần hết sức cảnh giác đề phòng, kẻo có ngày “lọt bẫy”. Chơi với dao sớm muộn cũng có ngày bị cứa. Thế nhưng khi chúng ta khéo léo cư xử, mức độ nguy hiểm sẽ giảm dần hoặc thành công mỹ mãn.
Trên thực tế rất dễ xác định được kẻ hay đố kỵ, vì mục tiêu của họ chỉ nhắm vào bạn, cạnh tranh vừa lành mạnh, vừa “đen tối”. Chúng sẽ chờ thời cơ để nói xấu hoặc “đơm đặt những điều vô căn cứ” mong triệt hạ bạn xuống một bậc.
Để đối phó với loại đồng nghiệp này, hãy theo một số cách cơ bản sau:
1. Định nghĩa và xoa dịu lòng ghen
Hãy xem lại thái độ của bản thân. Liệu có khi nào bạn cố tình khiêu khích đồng nghiệp? Hoặc ngang nhiên khoe khoang thành công một cách thái quá?
Đó là các câu hỏi bạn tự đặt ra cho chính mình. Có như thế mới tìm ra gốc gác của mâu thuẫn, xác định được lý do người ta “căm ghét” bạn.Khi đã nhận ra sai phạm đó, thì buộc lòng phải chỉnh sửa, tránh chuốc họa vào thân.
Sau đó xây dựng lòng tin với mọi người, giúp đỡ nhau cùng thành công và phát triển.
Còn nếu tự thân là người kiêu ngạo, bạn cần thay đổi cách nhìn nhận “Trên đời này còn nhiều người tài hơn ta”. Hơn nữa cũng nên hiểu rõ cái bon chen của cuộc đời là “Vỏ quýt dày ắt có móng tay nhọn”, nên bạn vẫn chưa thể là Number 1 trong vũ trụ. Vậy thì có gì để kênh kiệu và “lên mặt” với mọi người? Nếu bạn làm được điều đó, khoảng cách giữa đồng nghiệp sẽ thu hẹp dần, hòa bình lập lại trên diện rộng.
Riêng đối với mục đích sự nghiệp, danh tiếng và chuẩn mực, cần tránh xảy ra hiện tượng cãi cọ, đấu đá nhau nơi công sở, vì điều đó trông thật buồn cười. Thay vào đó hãy luôn nở nụ cười cầu hòa, tạo không gian thân thiết và vui vẻ thực sự.
2. Có được lòng tôn trọng của mọi người
Mục tiêu của bạn là tìm kiếm ngôi vị “á quân” trong bảng xếp hạng danh vọng? Vậy thì đừng bao giờ làm một điều gì trái với văn hóa công sở, nghĩa là luôn luôn phải minh bạch, có tính tự chịu trách nhiệm cao, thu hút được nhiều người nhìn nhận vai trò cũng như tài năng tiềm ẩn.
Nếu vô tình vấp phải sai lầm, bạn có quyền sửa chữa, chấp nhận lỗi và chịu mọi hình phạt. Có như thế người ta mới nể. Chứ “Đẹp phơi ra, xấu che lại” thì có gì phải ca ngợi đâu? Đó là điều hiển nhiên thôi. Sống trên đời cần có một tinh thần tự giác cao. Đó mới là chìa khóa thành công cho mai sau.
3. Xây dựng mối quan hệ lành mạnh
Nghĩa là sẵn sàng chúc mừng đồng nghiệp khi họ đạt được niềm vinh dự nào đó bằng những cử chỉ thân thiện, xuất phát từ tấm lòng.
Khi phát hiện ra đối thủ, đừng vội trả thù. Trước tiên phải gặp trực tiếp, một mặt đôi lời nói cho ra lẽ, và yêu cầu họ “ngừng thái độ thù địch”, vì rõ ràng “chúng ta là anh em, là người một nhà, thì không thể đá nhau”.
Nếu họ không muốn hiểu điều đó, bắt buộc bạn phải tìm cách tự bảo vệ mình.
4. Tìm kiếm liên minh với người có vị trí cao
Trước tiên bạn cần phòng ngự “sự công kích” của “kẻ thù” bằng cách làm thân với một người nào đó hiểu rõ ngọn ngành, ở vị trí cấp cao thì càng tốt. Vì điều đó giúp bạn có lợi. Nếu kẻ thù có ý định làm điều gì mờ ám, hắn sẽ phải dè chừng vì có “xếp” liên quan.
Và nhớ đừng bao giờ xuất hiện với bộ mặt thiểu não và chán nản.
5. Theo dõi những vi phạm
Lưu giữ tất cả những hành động đối đầu của kẻ ghen tuông để làm bằng chứng xác đáng nhất, nếu không lập luận sau này của bạn trở thành vô căn cứ, kết quả bỗng nhiên “lội dòng nước ngược” và đạp trả lại bạn. Nếu họ chơi xấu, bạn có quyền vạch mặt, khiến hắn “ngậm bò hòn”, không thốt nên lời.
6. Cho họ một chỗ đứng
“Đánh kẻ chạy đi, chứ không ai đánh kẻ chạy lại”. Khi đồng nghiệp hay chơi xấu, ghen ghét và mưu mô quyền lợi nào đó, nếu ở mức có thể châm chước, bạn hãy cho người ta một cơ hội “sửa chữa khuyết điểm”, chứ đừng quyết liệt bạc tình nghĩa. Điều đó giúp họ nhìn nhận lại bản thân. Nhưng tất nhiên bạn vẫn cần đề phòng vì có thể “cuộc chiến còn chưa kết thúc”.
Lời kết
Đối phó với đồng nghiệp ghen tuông thường là một ngữ cảnh rất khó cư xử. Vì một mục đích nào đó, họ sẵn sàng làm tất cả, ngay cả chuyện gây nguy hiểm tính mạng cho người khác, họ cũng bất chấp miễn sao có thể đánh bật kẻ thù, thế chân vào vị trí tốt đẹp đương thời.
Dù sao cũng cần hết sức tỉnh táo, xoa dịu lòng ghen, và trở nên thân thiện hơn.
Theo Dân trí
Hiển thị các bài đăng có nhãn PR. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PR. Hiển thị tất cả bài đăng
12/12/08
Chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020: hội nhập kinh tế quốc tế
VCCI vừa phối hợp với Học viện Ngoại giao - Bộ Ngoại giao tổ chức buổi toạ đàm “Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020”.
Tham dự buổi tọa đàm đa số các doanh nghiệp đều cho rằng trong hơn 20 năm qua, chiến lược ngoại giao của nước ta đã có những mặt thành công như: nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách và nhiều luật được đổi mới và ra đời như Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, Chính sách thuế,… Việc cải cách hành chính đã cởi trói cho các doanh nghiệp Việt Nam phát huy được tính chủ động sáng tạo, góp phần khôi phục và phát triển nền kinh tế đất nước; đồng thời thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Chính sách đối ngoại đã bắt đầu gắn kết với việc chấn hưng nền kinh tế đất nước và đưa nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, các đại biểu đều cho rằng, ngoài những việc đã làm được, chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế còn nhiều hạn chế do: Các chính sách và luật chưa được thực thi đồng bộ, chưa nhất quán từ trên xuống dưới, thủ tục hành chính nhiều cấp, nhiều địa phương còn rườm rà, chưa cải cách triệt để, chính sách thuế còn nhiều bất cập đối với những mặt hàng trọng yếu của nền kinh tế; Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì vậy chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư của các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Nhật ,Nga, Ấn Độ, Trung Quốc,…;GDP hàng năm tăng trưởng nhanh nhưng chưa có cơ sở vững chắc, đặc biệt hiện nay tình trạng lạm phát đang có chiều hướng gia tăng, nếu không có những giải pháp ngăn chặn thì nền kinh tế suy thoái là điều không thể tránh khỏi.
Khi bàn về định hướng chính sách đối ngoại trong những năm tiếp theo đến năm 2020, đặc biệt là ngoại giao phục vụ kinh tế và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp cho rằng những thách thức chính đối với công cuộc đổi mới hiện nay và trong tương lai đó là: nhiều quốc gia chưa hiểu thấu đáo chính sách đối ngoại “mở cửa” của Việt Nam là Việt Nam luôn muốn làm bạn với các nước; Các thế lực thù địch vẫn tìm cách bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế bằng việc xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc, nhân quyền ở Việt Nam; Cơ sở hạ tầng của Việt Nam như giao thông, điện nước,…còn phải một thời gian dài mới đáp ứng được nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Một số địa phương, cộng đồng dân cư chưa nắm bắt được tinh thần đổi mới, vẫn còn tư tưởng sản xuất tiểu nông, bảo thủ, chưa dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích lâu dài phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy một số khu công nghiệp tiến độ giải phóng mặt bằng rất chậm hoặc bị cản trở làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư của các doanh nghiệp trong và nước ngoài; Tình trạng tham ô, tham nhũng, cửa quyền vẫn còn tồn tại ở các cấp.
Để nền kinh tế đất nước phát triển nhanh và chính sách đối ngoại của Việt Nam được bền vững, ngoài việc phải bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia thì trọng tâm của công tác đối ngoại là phải phục vụ sự phát triển kinh tế của đấy nước và hội nhập kinh tế quốc tế; Cần tăng cường quan hệ đối tác hàng đầu với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc…; Tạo mọi điều kiện thuận lợi về chính sách, thông thoáng về thủ tục hành chính để thực sự mở cửa thu hút đầu tư của các đối tác trên.. Ngoài ra nên tăng cường tiếp thị để tìm kiếm, mở rộng thị trường đối với các nước Trung Đông, Châu Phi và Ấn Độ; thông qua việc giao lưu văn hóa, du lịch, hội thảo về đường lối chính sách mở cửa của Việt Nam là điểm đến đầy tiềm năng và hứa hẹn đối với các quốc gia đang phát triển; những chuyến đi của nguyên thủ quốc gia ngoài mục đích chính trị, xã hội phải lấy sự phát triển kinh tế làm trọng tâm; Tham tán thương mại của Đại sứ quán Việt Nam ở các nước mãi mãi phải là cầu nối giữa các doanh nghiệp, đối tác nước ngoài; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phải luôn luôn nâng cao ý thức trách nhiệm đối với đất nước, là biểu tượng của Việt Nam để cộng đồng dân cư nước sở tại thấy dân tộc Việt Nam là dân tộc có nền văn hóa, thân thiện, cởi mở, sẵn sàng hòa nhập với cộng đồng quốc tế.
Về vấn đề doanh nghiệp và doanh nhân kỳ vọng vào chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, các doanh nhân mong muốn đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài thực sự là chỗ dựa về mặt tinh thần cũng như pháp lý cho cộng đồng người Việt đang làm ăn, sinh sống, kinh doanh ở nước ngoài và các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam muốn đầu tư, phát triển hoạt động kinh doanh ra ngoài nước; mong đại sứ quán thực sự là “ngôi nhà Việt của mình” để các doanh nhân, doanh nghiệp khi đến đại sứ quán ở các nước sở tại sẽ có cảm giác thân quen chứ không phải đến chốn công quyền lạnh lẽo. Mong các đại sứ quán bên cạnh sứ mệnh là cơ quan đại diện cho đất nước, là người đại diện cho dân tộc, còn là cầu nối giữa cộng đồng người Việt với nước sở tại, là chỗ dựa, là người bảo vệ cho mọi công dân Việt Nam trên đất khách quê người.
Để chính sách đối ngoại đạt hiệu quả và thiết thực, theo các doanh nghiệp nên lấy thước đo là sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế đất nước; Giá trị xuất khẩu ngày càng tăng trong đó giá trị nhập khẩu thấp hơn giá trị xuất khẩu. Lấy mục tiêu ổn định đời sống và nâng cao mức sống của dân là mục tiêu đối ngoại để đến năm 2020 là nước công nghiệp với nền kinh tế tiên tiến. Bên cạnh đó các doanh nghiệp và doanh nhân phải tự đổi mới, lấy nội lực là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các đối tác nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh, liên kết tổ chức thành các tập đoàn kinh tế lớn để có thế và lực hợp tác và cạnh tranh với các công ty đầu ngành của nước ngoài.
Phần đông ý kiến cho rằng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020 cần phải triển khai dự báo về kinh tế; tìm kiếm thị trường, lựa chọn đối tác; Nghiên cứu để cơ cấu lại cơ quan ngoại giao đại diện ở nước ngoài; Xây dựng một cơ sở thương mại của nước ta ở các nước khác như nước Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ; Môi trường an ninh tại nước ngoài phải đảm bảo hơn…
Thu Hường
Tham dự buổi tọa đàm đa số các doanh nghiệp đều cho rằng trong hơn 20 năm qua, chiến lược ngoại giao của nước ta đã có những mặt thành công như: nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách và nhiều luật được đổi mới và ra đời như Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, Chính sách thuế,… Việc cải cách hành chính đã cởi trói cho các doanh nghiệp Việt Nam phát huy được tính chủ động sáng tạo, góp phần khôi phục và phát triển nền kinh tế đất nước; đồng thời thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Chính sách đối ngoại đã bắt đầu gắn kết với việc chấn hưng nền kinh tế đất nước và đưa nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, các đại biểu đều cho rằng, ngoài những việc đã làm được, chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế còn nhiều hạn chế do: Các chính sách và luật chưa được thực thi đồng bộ, chưa nhất quán từ trên xuống dưới, thủ tục hành chính nhiều cấp, nhiều địa phương còn rườm rà, chưa cải cách triệt để, chính sách thuế còn nhiều bất cập đối với những mặt hàng trọng yếu của nền kinh tế; Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì vậy chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư của các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Nhật ,Nga, Ấn Độ, Trung Quốc,…;GDP hàng năm tăng trưởng nhanh nhưng chưa có cơ sở vững chắc, đặc biệt hiện nay tình trạng lạm phát đang có chiều hướng gia tăng, nếu không có những giải pháp ngăn chặn thì nền kinh tế suy thoái là điều không thể tránh khỏi.
Khi bàn về định hướng chính sách đối ngoại trong những năm tiếp theo đến năm 2020, đặc biệt là ngoại giao phục vụ kinh tế và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp cho rằng những thách thức chính đối với công cuộc đổi mới hiện nay và trong tương lai đó là: nhiều quốc gia chưa hiểu thấu đáo chính sách đối ngoại “mở cửa” của Việt Nam là Việt Nam luôn muốn làm bạn với các nước; Các thế lực thù địch vẫn tìm cách bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế bằng việc xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc, nhân quyền ở Việt Nam; Cơ sở hạ tầng của Việt Nam như giao thông, điện nước,…còn phải một thời gian dài mới đáp ứng được nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Một số địa phương, cộng đồng dân cư chưa nắm bắt được tinh thần đổi mới, vẫn còn tư tưởng sản xuất tiểu nông, bảo thủ, chưa dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích lâu dài phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy một số khu công nghiệp tiến độ giải phóng mặt bằng rất chậm hoặc bị cản trở làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư của các doanh nghiệp trong và nước ngoài; Tình trạng tham ô, tham nhũng, cửa quyền vẫn còn tồn tại ở các cấp.
Để nền kinh tế đất nước phát triển nhanh và chính sách đối ngoại của Việt Nam được bền vững, ngoài việc phải bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia thì trọng tâm của công tác đối ngoại là phải phục vụ sự phát triển kinh tế của đấy nước và hội nhập kinh tế quốc tế; Cần tăng cường quan hệ đối tác hàng đầu với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc…; Tạo mọi điều kiện thuận lợi về chính sách, thông thoáng về thủ tục hành chính để thực sự mở cửa thu hút đầu tư của các đối tác trên.. Ngoài ra nên tăng cường tiếp thị để tìm kiếm, mở rộng thị trường đối với các nước Trung Đông, Châu Phi và Ấn Độ; thông qua việc giao lưu văn hóa, du lịch, hội thảo về đường lối chính sách mở cửa của Việt Nam là điểm đến đầy tiềm năng và hứa hẹn đối với các quốc gia đang phát triển; những chuyến đi của nguyên thủ quốc gia ngoài mục đích chính trị, xã hội phải lấy sự phát triển kinh tế làm trọng tâm; Tham tán thương mại của Đại sứ quán Việt Nam ở các nước mãi mãi phải là cầu nối giữa các doanh nghiệp, đối tác nước ngoài; cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phải luôn luôn nâng cao ý thức trách nhiệm đối với đất nước, là biểu tượng của Việt Nam để cộng đồng dân cư nước sở tại thấy dân tộc Việt Nam là dân tộc có nền văn hóa, thân thiện, cởi mở, sẵn sàng hòa nhập với cộng đồng quốc tế.
Về vấn đề doanh nghiệp và doanh nhân kỳ vọng vào chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, các doanh nhân mong muốn đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài thực sự là chỗ dựa về mặt tinh thần cũng như pháp lý cho cộng đồng người Việt đang làm ăn, sinh sống, kinh doanh ở nước ngoài và các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam muốn đầu tư, phát triển hoạt động kinh doanh ra ngoài nước; mong đại sứ quán thực sự là “ngôi nhà Việt của mình” để các doanh nhân, doanh nghiệp khi đến đại sứ quán ở các nước sở tại sẽ có cảm giác thân quen chứ không phải đến chốn công quyền lạnh lẽo. Mong các đại sứ quán bên cạnh sứ mệnh là cơ quan đại diện cho đất nước, là người đại diện cho dân tộc, còn là cầu nối giữa cộng đồng người Việt với nước sở tại, là chỗ dựa, là người bảo vệ cho mọi công dân Việt Nam trên đất khách quê người.
Để chính sách đối ngoại đạt hiệu quả và thiết thực, theo các doanh nghiệp nên lấy thước đo là sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế đất nước; Giá trị xuất khẩu ngày càng tăng trong đó giá trị nhập khẩu thấp hơn giá trị xuất khẩu. Lấy mục tiêu ổn định đời sống và nâng cao mức sống của dân là mục tiêu đối ngoại để đến năm 2020 là nước công nghiệp với nền kinh tế tiên tiến. Bên cạnh đó các doanh nghiệp và doanh nhân phải tự đổi mới, lấy nội lực là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các đối tác nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh, liên kết tổ chức thành các tập đoàn kinh tế lớn để có thế và lực hợp tác và cạnh tranh với các công ty đầu ngành của nước ngoài.
Phần đông ý kiến cho rằng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020 cần phải triển khai dự báo về kinh tế; tìm kiếm thị trường, lựa chọn đối tác; Nghiên cứu để cơ cấu lại cơ quan ngoại giao đại diện ở nước ngoài; Xây dựng một cơ sở thương mại của nước ta ở các nước khác như nước Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ; Môi trường an ninh tại nước ngoài phải đảm bảo hơn…
Thu Hường
Ứng xử với “tình công sở”
“Tình công sở” – chuyện không còn hiếm trong môi trường làm việc hiện đại vốn đã “lấy hết” thời gian riêng tư. Đây là một chuyện khó tránh khỏi và cũng không có gì sai trái. Tuy nhiên, cũng có lúc “mối quan hệ” này lâm vào tình cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”. Vậy ứng xử với nó như thế nào để khỏi ảnh hưởng đến kết quả công việc của cá nhân mình và của cả “đội” trong công ty?
Có lẽ một trong những điều khó tránh khỏi nhất trong mối quan hệ phức tạp này chính là ghen. Mối quan hệ thuần túy công việc giữa hai thành viên khác giới trong cùng một nhóm đôi khi để lại những hiểu lầm không đáng có cho người khác, mà cụ thể ở đây có thể là người bạn trai của mình. Đôi lúc, sự ghen tuông của người nọ còn làm cho ảnh hưởng đến thành quả chung của doanh nghiệp. Và, trong trường hợp này, có thể bạn sẽ phải thuyên chuyển công việc nhằm tránh gây ra sự mất đoàn kết trong doanh nghiệp. Chị Xuân Hương – nhân viên một Cty đang hoạt động tại Hà Nội cho rằng, khi “chuyện tình công sở” đã ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của mình thì cách tốt nhất là phải nói chuyện trực tiếp với “đối tượng” của mình và người đồng nghiệp đã bị hiểu lầm, nhằm giải tỏa những khúc mắc trong lòng họ. Còn người nhân viên bị đề nghị thuyên chuyển cũng nên nói với lãnh đạo của mình về khả năng giải quyết mâu thuẫn trong tình cảm của mình cũng như năng lực của mình đối với công việc.
Trong mối quan hệ đặc biệt này, TS Lý Quý Trung – TGĐ Cty CP SX-TM-DV Phở Hai mươi bốn cho rằng, nếu chuyện tình cảm chưa xử lý xong thì rất khó để xử lý chuyện công việc. Chị Xuân Hương không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của TS Lý Quý Trung. Chị cho rằng, khi người nhân viên đang đối mặt với việc phải thuyên chuyển công việc thì sẽ không đủ thời gian để chờ giải quyết ổn thỏa chuyện tình cảm của mình. Việc quan trọng nhất lúc đó là cam kết với lãnh đạo là cho mình chút thời gian để giải quyết mọi chuyện, tránh không để ảnh hưởng đến việc hợp tác làm việc trong công ty.
Ông Nguyễn Hoài Nam – TGĐ Tập đoàn Berjaya Việt Nam thắc mắc, nếu như người yêu của nhân viên đó đưa ra điều kiện lựa chọn giữa công việc và tình yêu thì người đó phải xử lý như thế nào? Theo chị Xuân Hương, nếu như người yêu của mình sau khi đã nói chuyện với nhau vẫn không chịu hợp tác thì cách tốt nhất là “đồng ý chia tay. Chị Xuân Hương cho rằng, nếu như ngay cả một việc như thế cũng không đủ tin tưởng và thông cảm với nhau thì rất khó để giải quyết những mẫu thuẩn có thể xẩy ra trong cuộc sống sau này.
Cách giải quyết và giả định tình huống của những người chơi trong chương trình “Chìa khóa thành công” phát sóng vào lúc 21h10 ngày 8/10/2008 trên sóng VTV1 có hoàn toàn hợp tình hợp lý hay không? Xin mời độc giả đón xem chương trình này và chi tiết tham khảo thêm tại http://www.dddn.com.vn và http://chiakhoathanhcong.vtv.vn
Thủy Nguyên
Có lẽ một trong những điều khó tránh khỏi nhất trong mối quan hệ phức tạp này chính là ghen. Mối quan hệ thuần túy công việc giữa hai thành viên khác giới trong cùng một nhóm đôi khi để lại những hiểu lầm không đáng có cho người khác, mà cụ thể ở đây có thể là người bạn trai của mình. Đôi lúc, sự ghen tuông của người nọ còn làm cho ảnh hưởng đến thành quả chung của doanh nghiệp. Và, trong trường hợp này, có thể bạn sẽ phải thuyên chuyển công việc nhằm tránh gây ra sự mất đoàn kết trong doanh nghiệp. Chị Xuân Hương – nhân viên một Cty đang hoạt động tại Hà Nội cho rằng, khi “chuyện tình công sở” đã ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của mình thì cách tốt nhất là phải nói chuyện trực tiếp với “đối tượng” của mình và người đồng nghiệp đã bị hiểu lầm, nhằm giải tỏa những khúc mắc trong lòng họ. Còn người nhân viên bị đề nghị thuyên chuyển cũng nên nói với lãnh đạo của mình về khả năng giải quyết mâu thuẫn trong tình cảm của mình cũng như năng lực của mình đối với công việc.
Trong mối quan hệ đặc biệt này, TS Lý Quý Trung – TGĐ Cty CP SX-TM-DV Phở Hai mươi bốn cho rằng, nếu chuyện tình cảm chưa xử lý xong thì rất khó để xử lý chuyện công việc. Chị Xuân Hương không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của TS Lý Quý Trung. Chị cho rằng, khi người nhân viên đang đối mặt với việc phải thuyên chuyển công việc thì sẽ không đủ thời gian để chờ giải quyết ổn thỏa chuyện tình cảm của mình. Việc quan trọng nhất lúc đó là cam kết với lãnh đạo là cho mình chút thời gian để giải quyết mọi chuyện, tránh không để ảnh hưởng đến việc hợp tác làm việc trong công ty.
Ông Nguyễn Hoài Nam – TGĐ Tập đoàn Berjaya Việt Nam thắc mắc, nếu như người yêu của nhân viên đó đưa ra điều kiện lựa chọn giữa công việc và tình yêu thì người đó phải xử lý như thế nào? Theo chị Xuân Hương, nếu như người yêu của mình sau khi đã nói chuyện với nhau vẫn không chịu hợp tác thì cách tốt nhất là “đồng ý chia tay. Chị Xuân Hương cho rằng, nếu như ngay cả một việc như thế cũng không đủ tin tưởng và thông cảm với nhau thì rất khó để giải quyết những mẫu thuẩn có thể xẩy ra trong cuộc sống sau này.
Cách giải quyết và giả định tình huống của những người chơi trong chương trình “Chìa khóa thành công” phát sóng vào lúc 21h10 ngày 8/10/2008 trên sóng VTV1 có hoàn toàn hợp tình hợp lý hay không? Xin mời độc giả đón xem chương trình này và chi tiết tham khảo thêm tại http://www.dddn.com.vn và http://chiakhoathanhcong.vtv.vn
Thủy Nguyên
3/12/08
PR trong giáo dục: "Cạnh tranh nhung"
(VNAD) - “Mở cửa” thị trường giáo dục vào năm 2009 theo cam kết khi gia nhập WTO vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức cho các trường đại học ở Việt Nam. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chuyện quan hệ công chúng (PR) ở các trường đại học ngày càng trở nên “nhạy cảm”.
Tham gia cuộc thi "Sinh viên khởi nghiệp" đã chứng tỏ hiệu quả đa dạng cách PR của Trường đại học Ngoại Thương
Thế nhưng, các trường đại học Việt Nam lại chưa quan tâm và tận dụng đúng mức loại hình PR này. Trong khi đó, các trường đại học nước ngoài lại rất chú trọng. Lấy ví dụ từ Trường đại học quốc tế RMIT trong suốt 5 năm qua đã triển khai nhiều hoạt động nhằm xây dựng thương hiệu cũng như niềm tin của người Việt Nam. Trước xu thế đó, cuộc đua thông tin giữa các trường âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt được ví như cuộc “cạnh tranh nhung” đang thực sự diễn ra.
“Đói” kinh phí” - không là vấn đề!
Hiện nay vẫn không ít trường bảo thủ cho rằng: không cần PR thì trường của mình cũng không thiếu thí sinh dự thi, điểm chuẩn vẫn cao... Thêm nữa, trong khi mức học phí còn thấp như hiện nay thì nhiều trường cũng không đủ điều kiện chi phí cho truyền thông... Thậm chí, nhiều trường hoạt động theo cách “hữu xạ... tự nhiên hương”. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Triệu - Bí thư Đoàn Thanh niên Trường đại học Ngoại thương khẳng định: “Kinh phí ư? Trường nào cũng trong tình trạng “đói kinh phí” cả. Nhưng không vì thế mà không khắc phục được. Kinh phí nhiều quá có khi lại tạo nên sức ì cũng nên. Tôi cho rằng trường đại học nào cũng đều nhận thức được tầm quan trọng của việc truyền thông, chỉ chưa thực hiện được thôi”.
Phó hiệu trưởng một trường đại học cho biết: “Giáo dục cũng cần phải quan hệ với công chúng. Đặc biệt là những trường đang phấn đấu đạt trường chuẩn quốc tế thì việc PR lại càng quan trọng và có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Thế giới người ta đã tiến xa và mạnh rồi, mình bây giờ mới tiến hành nên phải tăng cường mạnh hơn nữa”.
Trường đại học Ngoại thương là một ví dụ tiêu biểu, trường đã thành lập Câu lạc bộ (CLB) truyền thông nhằm quảng bá “thương hiệu” trường mình. Nói về tầm quan trọng của việc PR ở các trường đại học, ông Bùi Anh Tuấn - Phó Chủ tịch CLB truyền thông cho biết: “Vẫn biết hiện nay có nhiều phương tiện truyền thông nhưng việc một trường đại học đưa thông tin trực tiếp sẽ mang tính chất đầy đủ và chính xác hơn. Thêm nữa còn thể hiện được sự quan tâm của trường đối với thế hệ trẻ”.
Tuấn còn tâm sự: “Bất kỳ một tổ chức nào hoạt động và để hoạt động được tốt thì đằng sau đó bao giờ cũng là vấn đề kinh phí. Thế nhưng, cố gắng làm tốt những công việc đề ra trong tổng số kinh phí nhỏ hẹp đó dần dần sẽ mở rộng được nguồn kinh phí”.
“Cộng sinh” cùng có lợi
Hoạt động của DN ngày càng hướng tới những hoạt động xã hội và cộng đồng mục đích để nâng cao thương hiệu và tìm kiếm nhân tài. Các DN, các quỹ đầu tư, các cá nhân, tổ chức sẵn sàng ủng hộ đầu tư cho những ý tưởng khả thi đột phá. Nhận thức được tầm quan trọng của công việc PR, thời gian gần đây các trường đại học không ngừng mở rộng việc đối ngoại. Nắm bắt tâm lý các sĩ tử để tổ chức những chương trình tư vấn tuyển sinh, tọa đàm với sự có mặt của các DN - họ cùng với nhà trường sẽ liên kết giới thiệu về ngành, nghề đào tạo của trường và công việc sau khi tốt nghiệp. Hình thức này nếu thực hiện tốt không chỉ có lợi về phía các trường đại học, các DN mà ngay cả những thí sinh cũng có những hiểu biết cần thiết cho việc lựa chọn ngành nghề tương lai.
Đơn cử, CLB Nhà DN tương lai (Đại học Ngoại thương Hà Nội) đã ký kết hợp đồng hợp tác cùng với Cty GE- Nhật Bản (ông Katsuno Hasegawa - đại diện quỹ học bổng “Kawai business strat-up”) để tổ chức cuộc thi “Khởi nghiệp cùng Kawai”. Đây là một trong số rất nhiều hoạt động về kinh doanh, khởi nghiệp trong nhà trường do các sinh viên thuộc CLB Nhà DN tương lai đứng ra tổ chức. Không chỉ có vậy, CLB này còn kết hợp với cuộc thi Sinh viên khởi nghiệp của Báo DđDN nhằm quảng bá... chất lượng sinh viên của mình. Và họ cũng không bị thất vọng vì sinh viên Trường Ngoại thương đã chiếm nhiều vị trí đáng nể. Một thành viên trong CLB truyền thông cho biết: “Hợp tác với quỹ học bổng Kawai, nhiệm vụ của chúng tôi là đưa thông tin về quỹ học bổng đến với các bạn sinh viên thông qua hệ thống VOF, qua các diễn đàn, tờ nội san “Sức trẻ”, phát tờ rơi... Ngược lại, bên phía Kawai sẽ giúp chúng tôi về mặt kinh phí để thực hiện tốt việc truyền thông đó”. Như vậy, cả hai phía tham gia đều được hưởng những quyền lợi nhất định phù hợp với mục đích của mình. Nếu như trước kia, tổ chức một cuộc thi ý tưởng kinh doanh, lập dự án khởi nghiệp thường là do một cơ quan, tổ chức nhà nước hay của một DN hoặc của một trường đại học nào đó đứng ra thực hiện thì nay, cả ba đơn vị này đã hỗ trợ hợp tác để cùng có lợi!
Quả là một công đôi việc, chiến dịch PR của các trường đại học lại đang vào mùa và cũng đang hứa hẹn bội thu.
Theo DĐDN
Tham gia cuộc thi "Sinh viên khởi nghiệp" đã chứng tỏ hiệu quả đa dạng cách PR của Trường đại học Ngoại Thương
Thế nhưng, các trường đại học Việt Nam lại chưa quan tâm và tận dụng đúng mức loại hình PR này. Trong khi đó, các trường đại học nước ngoài lại rất chú trọng. Lấy ví dụ từ Trường đại học quốc tế RMIT trong suốt 5 năm qua đã triển khai nhiều hoạt động nhằm xây dựng thương hiệu cũng như niềm tin của người Việt Nam. Trước xu thế đó, cuộc đua thông tin giữa các trường âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt được ví như cuộc “cạnh tranh nhung” đang thực sự diễn ra.
“Đói” kinh phí” - không là vấn đề!
Hiện nay vẫn không ít trường bảo thủ cho rằng: không cần PR thì trường của mình cũng không thiếu thí sinh dự thi, điểm chuẩn vẫn cao... Thêm nữa, trong khi mức học phí còn thấp như hiện nay thì nhiều trường cũng không đủ điều kiện chi phí cho truyền thông... Thậm chí, nhiều trường hoạt động theo cách “hữu xạ... tự nhiên hương”. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Triệu - Bí thư Đoàn Thanh niên Trường đại học Ngoại thương khẳng định: “Kinh phí ư? Trường nào cũng trong tình trạng “đói kinh phí” cả. Nhưng không vì thế mà không khắc phục được. Kinh phí nhiều quá có khi lại tạo nên sức ì cũng nên. Tôi cho rằng trường đại học nào cũng đều nhận thức được tầm quan trọng của việc truyền thông, chỉ chưa thực hiện được thôi”.
Phó hiệu trưởng một trường đại học cho biết: “Giáo dục cũng cần phải quan hệ với công chúng. Đặc biệt là những trường đang phấn đấu đạt trường chuẩn quốc tế thì việc PR lại càng quan trọng và có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Thế giới người ta đã tiến xa và mạnh rồi, mình bây giờ mới tiến hành nên phải tăng cường mạnh hơn nữa”.
Trường đại học Ngoại thương là một ví dụ tiêu biểu, trường đã thành lập Câu lạc bộ (CLB) truyền thông nhằm quảng bá “thương hiệu” trường mình. Nói về tầm quan trọng của việc PR ở các trường đại học, ông Bùi Anh Tuấn - Phó Chủ tịch CLB truyền thông cho biết: “Vẫn biết hiện nay có nhiều phương tiện truyền thông nhưng việc một trường đại học đưa thông tin trực tiếp sẽ mang tính chất đầy đủ và chính xác hơn. Thêm nữa còn thể hiện được sự quan tâm của trường đối với thế hệ trẻ”.
Tuấn còn tâm sự: “Bất kỳ một tổ chức nào hoạt động và để hoạt động được tốt thì đằng sau đó bao giờ cũng là vấn đề kinh phí. Thế nhưng, cố gắng làm tốt những công việc đề ra trong tổng số kinh phí nhỏ hẹp đó dần dần sẽ mở rộng được nguồn kinh phí”.
“Cộng sinh” cùng có lợi
Hoạt động của DN ngày càng hướng tới những hoạt động xã hội và cộng đồng mục đích để nâng cao thương hiệu và tìm kiếm nhân tài. Các DN, các quỹ đầu tư, các cá nhân, tổ chức sẵn sàng ủng hộ đầu tư cho những ý tưởng khả thi đột phá. Nhận thức được tầm quan trọng của công việc PR, thời gian gần đây các trường đại học không ngừng mở rộng việc đối ngoại. Nắm bắt tâm lý các sĩ tử để tổ chức những chương trình tư vấn tuyển sinh, tọa đàm với sự có mặt của các DN - họ cùng với nhà trường sẽ liên kết giới thiệu về ngành, nghề đào tạo của trường và công việc sau khi tốt nghiệp. Hình thức này nếu thực hiện tốt không chỉ có lợi về phía các trường đại học, các DN mà ngay cả những thí sinh cũng có những hiểu biết cần thiết cho việc lựa chọn ngành nghề tương lai.
Đơn cử, CLB Nhà DN tương lai (Đại học Ngoại thương Hà Nội) đã ký kết hợp đồng hợp tác cùng với Cty GE- Nhật Bản (ông Katsuno Hasegawa - đại diện quỹ học bổng “Kawai business strat-up”) để tổ chức cuộc thi “Khởi nghiệp cùng Kawai”. Đây là một trong số rất nhiều hoạt động về kinh doanh, khởi nghiệp trong nhà trường do các sinh viên thuộc CLB Nhà DN tương lai đứng ra tổ chức. Không chỉ có vậy, CLB này còn kết hợp với cuộc thi Sinh viên khởi nghiệp của Báo DđDN nhằm quảng bá... chất lượng sinh viên của mình. Và họ cũng không bị thất vọng vì sinh viên Trường Ngoại thương đã chiếm nhiều vị trí đáng nể. Một thành viên trong CLB truyền thông cho biết: “Hợp tác với quỹ học bổng Kawai, nhiệm vụ của chúng tôi là đưa thông tin về quỹ học bổng đến với các bạn sinh viên thông qua hệ thống VOF, qua các diễn đàn, tờ nội san “Sức trẻ”, phát tờ rơi... Ngược lại, bên phía Kawai sẽ giúp chúng tôi về mặt kinh phí để thực hiện tốt việc truyền thông đó”. Như vậy, cả hai phía tham gia đều được hưởng những quyền lợi nhất định phù hợp với mục đích của mình. Nếu như trước kia, tổ chức một cuộc thi ý tưởng kinh doanh, lập dự án khởi nghiệp thường là do một cơ quan, tổ chức nhà nước hay của một DN hoặc của một trường đại học nào đó đứng ra thực hiện thì nay, cả ba đơn vị này đã hỗ trợ hợp tác để cùng có lợi!
Quả là một công đôi việc, chiến dịch PR của các trường đại học lại đang vào mùa và cũng đang hứa hẹn bội thu.
Theo DĐDN
PR là nghề được tôn trọng ở Việt Nam
(VNAD) - Shaun Phạm, sinh năm 1986, tốt nghiệp Đại học Fullerton về ngành truyền thông. Trước khi về Việt Nam làm việc, Shaun đã đi làm cho một công ty tại Los Angeles.
Năm 2007, Shaun bắt đầu làm việc cho Ogilvy Public Realtion, một công ty chuyên về PR tại TP HCM với vị trí một PR Manager. Anh đã tham gia vào nhiều dự án lớn như, dự án PR cho Unilever Việt Nam cũng như nhiều dự án đặc biệt. Trước đó, anh đã là một PR supervisor tại Golden Communication Group. Với vị trí là người trong cuộc, Shaun Phạm chia sẻ về công việc mới nhiều hấp dẫn đối với bạn trẻ này.
Nhân viên PR là những người làm phát ngôn viên của một cơ quan ngoại giao, đại diện báo chí cho các tổ chức, người cung cấp thông tin của một công ty, những người làm công việc quan hệ đối ngoại được gọi chung là PR (Public Relations). Tôi đến với PR vì số phận đưa đẩy, rồi sau đó mới phát hiện ra là PR chính là niềm đam mê của mình. Còn nếu nói về tiền bạc thì chắc chắn là không rồi, vì tôi luôn quyết định nghề nghiệp vì say mê chứ không bao giờ vì tiền bạc.
Điều khiến tôi gặp khó khăn là thị trường PR ở Việt Nam vẫn còn “non trẻ ” đối với những nước khác. Vì tôi đã làm việc PR ở bên Mỹ một thời gian, nên tôi có nhiều hoạt động và chiến lược PR rất hay, nhưng cái khó khăn là có thể chưa áp dụng được ở Việt Nam. Theo tôi nghĩ khó khăn lớn nhất đối với nghề PR hiện nay là ở Việt Nam vẫn chưa có những trường đào tạo chính quy và chuyên nghiệp PR, do đó vô tình cũng sẽ tạo nên một rào cản không nhỏ đối với những ai muốn tìm tòi và am hiểu nghề PR, nhất là đối với tốc độ phát triển và đòi hỏi việc nâng cao nghề nghiệp chuyên môn về PR như hiện nay. Tuy nhiên, thử thách lớn nhất đối với những người trẻ làm PR ở VN hiện nay chính là khả năng sáng tạo, sự linh hoạt và phản ứng nhanh.
Nếu tính ở Hà Nội và TP HCM, các công ty event mở ra hàng ngày và thường rất ít trong số đó thành công. Theo tôi thì những công ty thất bại vì họ không hiểu quan niệm của thương hiệu và của công chúng, và kèm theo đó cũng là cách làm việc chuyên nghiệp và sáng tạo. Ai cũng biết, giải quyết khủng hoảng luôn là một bài toán hóc búa với nhân viên PR, kể cả bạn làm PR manager cho doanh nghiệp hay bạn ở công ty PR được thuê mướn. Trong thị trường nóng bỏng và cạnh tranh hiện nay, thật khó có doanh nghiệp, tổ chức nào có thể tự tin không bao giờ dính đến khủng hoảng. Khả năng giải quyết khủng hoảng vốn được xem như “cơn ác mộng” của các doanh nghiệp, chỉ có những công ty PR được đánh giá là chuyên nghiệp mới có thể đảm đương được.
May mắn là từ thời gian bắt đầu đến với công việc PR cho đến nay, tôi chưa gặp phải vấn đề giải quyết khủng hoảng nào. Trong công việc của tôi, lúc nào tôi cũng theo khái niệm “PR sạch” hết, vì cuộc sống cũng như công việc của tôi, lúc nào cũng phải sống và làm việc tốt và có lương tâm. Nếu theo suy diễn thông thường, thì đối ngược với PR sạch hẳn là “PR bẩn”. Nhiều người làm PR đều phải rùng mình vì những chiêu mánh của các đối thủ chơi nhau nhằm giành giật khách hàng. Chuyện này thì xảy ra quá thường, nhưng tôi không để nó ảnh hưởng tôi. Làm “PR bẩn” thì có thể giành giật được khách hàng, nhưng nếu làm việc không chuyên nghiệp và không hiểu quả, thì không giữ được họ đâu. Tôi luôn tự tin với cách làm việc chuyên nghiệp của mình và công ty, nên không bao giờ phải làm “PR bẩn”.
Dẫu vậy, tôi cảm thấy nghề PR được tôn trọng ở Việt Nam. Có nhiều người trẻ khi tiếp xúc với tôi hay nói rằng họ rất thích nghề PR. Nhưng cũng có một số người không hiểu rõ PR là gì, vì dạo này mấy cô tiếp khách trong bar cũng gọi là “PR”, nên ai hiểu lầm nghề PR là như vậy, thì sẽ thiếu sự tôn trọng. Hầu hết những người làm PR đều phải đứng chân trong một công ty nào đó, vì nó liên quan đến hợp đồng, con dấu và nhiều thủ tục khác khi thanh toán. Nhưng cũng đã có những người vượt qua trở ngại đó. Và con số này ngày càng tăng lên. ý tôi nói đến những PR freelance.
Theo tôi làm PR freelance, điểm yếu là mình không có sự hỗ trợ của một công ty hay tập đoàn chuyên về PR. Riêng tôi thì thích làm PR cho một công ty chuyên về PR hơn. Theo tôi thì thành công trong nghề nào cũng không dễ hay khó, nhưng tùy theo năng khiếu và sự cố gắng của mình thôi. Nhưng yếu tố quan trọng nhất là công việc mình chọn là say mê của mình. Cho dù công việc bận rộn, tôi ít có thời gian riêng tư đúng nghĩa, nhưng tôi vẫn không thấy băn khoăn lắm. Vì dù sao đi nữa, PR cũng là cuộc sống của tôi, và bây giờ công việc tốt nên tôi luôn tập trung vào công việc. Còn chuyện tình yêu thì… chưa có nên tôi lo làm việc thôi!
Theo ANTĐ
Năm 2007, Shaun bắt đầu làm việc cho Ogilvy Public Realtion, một công ty chuyên về PR tại TP HCM với vị trí một PR Manager. Anh đã tham gia vào nhiều dự án lớn như, dự án PR cho Unilever Việt Nam cũng như nhiều dự án đặc biệt. Trước đó, anh đã là một PR supervisor tại Golden Communication Group. Với vị trí là người trong cuộc, Shaun Phạm chia sẻ về công việc mới nhiều hấp dẫn đối với bạn trẻ này.
Nhân viên PR là những người làm phát ngôn viên của một cơ quan ngoại giao, đại diện báo chí cho các tổ chức, người cung cấp thông tin của một công ty, những người làm công việc quan hệ đối ngoại được gọi chung là PR (Public Relations). Tôi đến với PR vì số phận đưa đẩy, rồi sau đó mới phát hiện ra là PR chính là niềm đam mê của mình. Còn nếu nói về tiền bạc thì chắc chắn là không rồi, vì tôi luôn quyết định nghề nghiệp vì say mê chứ không bao giờ vì tiền bạc.
Điều khiến tôi gặp khó khăn là thị trường PR ở Việt Nam vẫn còn “non trẻ ” đối với những nước khác. Vì tôi đã làm việc PR ở bên Mỹ một thời gian, nên tôi có nhiều hoạt động và chiến lược PR rất hay, nhưng cái khó khăn là có thể chưa áp dụng được ở Việt Nam. Theo tôi nghĩ khó khăn lớn nhất đối với nghề PR hiện nay là ở Việt Nam vẫn chưa có những trường đào tạo chính quy và chuyên nghiệp PR, do đó vô tình cũng sẽ tạo nên một rào cản không nhỏ đối với những ai muốn tìm tòi và am hiểu nghề PR, nhất là đối với tốc độ phát triển và đòi hỏi việc nâng cao nghề nghiệp chuyên môn về PR như hiện nay. Tuy nhiên, thử thách lớn nhất đối với những người trẻ làm PR ở VN hiện nay chính là khả năng sáng tạo, sự linh hoạt và phản ứng nhanh.
Nếu tính ở Hà Nội và TP HCM, các công ty event mở ra hàng ngày và thường rất ít trong số đó thành công. Theo tôi thì những công ty thất bại vì họ không hiểu quan niệm của thương hiệu và của công chúng, và kèm theo đó cũng là cách làm việc chuyên nghiệp và sáng tạo. Ai cũng biết, giải quyết khủng hoảng luôn là một bài toán hóc búa với nhân viên PR, kể cả bạn làm PR manager cho doanh nghiệp hay bạn ở công ty PR được thuê mướn. Trong thị trường nóng bỏng và cạnh tranh hiện nay, thật khó có doanh nghiệp, tổ chức nào có thể tự tin không bao giờ dính đến khủng hoảng. Khả năng giải quyết khủng hoảng vốn được xem như “cơn ác mộng” của các doanh nghiệp, chỉ có những công ty PR được đánh giá là chuyên nghiệp mới có thể đảm đương được.
May mắn là từ thời gian bắt đầu đến với công việc PR cho đến nay, tôi chưa gặp phải vấn đề giải quyết khủng hoảng nào. Trong công việc của tôi, lúc nào tôi cũng theo khái niệm “PR sạch” hết, vì cuộc sống cũng như công việc của tôi, lúc nào cũng phải sống và làm việc tốt và có lương tâm. Nếu theo suy diễn thông thường, thì đối ngược với PR sạch hẳn là “PR bẩn”. Nhiều người làm PR đều phải rùng mình vì những chiêu mánh của các đối thủ chơi nhau nhằm giành giật khách hàng. Chuyện này thì xảy ra quá thường, nhưng tôi không để nó ảnh hưởng tôi. Làm “PR bẩn” thì có thể giành giật được khách hàng, nhưng nếu làm việc không chuyên nghiệp và không hiểu quả, thì không giữ được họ đâu. Tôi luôn tự tin với cách làm việc chuyên nghiệp của mình và công ty, nên không bao giờ phải làm “PR bẩn”.
Dẫu vậy, tôi cảm thấy nghề PR được tôn trọng ở Việt Nam. Có nhiều người trẻ khi tiếp xúc với tôi hay nói rằng họ rất thích nghề PR. Nhưng cũng có một số người không hiểu rõ PR là gì, vì dạo này mấy cô tiếp khách trong bar cũng gọi là “PR”, nên ai hiểu lầm nghề PR là như vậy, thì sẽ thiếu sự tôn trọng. Hầu hết những người làm PR đều phải đứng chân trong một công ty nào đó, vì nó liên quan đến hợp đồng, con dấu và nhiều thủ tục khác khi thanh toán. Nhưng cũng đã có những người vượt qua trở ngại đó. Và con số này ngày càng tăng lên. ý tôi nói đến những PR freelance.
Theo tôi làm PR freelance, điểm yếu là mình không có sự hỗ trợ của một công ty hay tập đoàn chuyên về PR. Riêng tôi thì thích làm PR cho một công ty chuyên về PR hơn. Theo tôi thì thành công trong nghề nào cũng không dễ hay khó, nhưng tùy theo năng khiếu và sự cố gắng của mình thôi. Nhưng yếu tố quan trọng nhất là công việc mình chọn là say mê của mình. Cho dù công việc bận rộn, tôi ít có thời gian riêng tư đúng nghĩa, nhưng tôi vẫn không thấy băn khoăn lắm. Vì dù sao đi nữa, PR cũng là cuộc sống của tôi, và bây giờ công việc tốt nên tôi luôn tập trung vào công việc. Còn chuyện tình yêu thì… chưa có nên tôi lo làm việc thôi!
Theo ANTĐ
Quan hệ công chúng (PR) và Quan hệ nhà đầu tư (IR)
(VNAD) - Sáng 14/4 tại Hà Nội, Trung tâm thông tin Kinh doanh và Thương mại (TBIC) thuộc Hội doanh nghiệp trẻ Hà Nội đã tổ chức hội thảo về quan hệ công chúng (Public Relation – PR) và quan hệ nhà đầu tư (Investors Relation – IR).
Hơn 100 đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp, các chuyên gia về truyền thông tài chính và chứng khoán đã tham dự hội thảo. Hội thảo tập trung vào chủ đề công tác PR và IR ở các doanh nghiệp Việt Nam.
Tại hội thảo, các chuyên gia có uy tín đã thuyết trình về mối quan hệ giữa hai hoạt động PR và IR. Bà Phạm Thanh Hà- Giám đốc Công ty cổ phần Megalink- cho rằng, các hoạt động quan hệ công chúng- PR đóng góp lớn cho việc xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tạo lập chỗ đứng cho riêng mình trên thị trường. Đồng thời, trên phương diện truyền thông tài chính, xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp chính là tạo dựng được niềm tin của nhà đầu tư vào giá trị tương lai của doanh nghiệp, hay còn gọi là quan hệ nhà đầu tư- IR.
Đặc biệt, ông Frank N.Hawkins- Giám đốc điều hành Tập đoàn Hawk Associates (Mỹ) đã chia sẻ những kinh nghiệm PR-IR của thị trường tài chính Mỹ. Ông Frank cho biết, theo nghiên cứu mới đây của tổ chức Rivel research Group, hoạt động IR tốt có thể khiến giá cổ phiếu tăng 10% và ngược lại, công tác IR tồi có thể làm giá trị cổ phiếu giảm tới 15%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hoạt động quan hệ nhà đầu tư IR đang ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tin tức hữu ích, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư.
Ông Đào Nam Anh- Chủ tịch HĐQT Công ty truyền thông đầu tư tài chính VFM đã nêu ra thực trạng hiện nay và những giải pháp về quan hệ nhà đầu tư IR của doanh nghiệp Việt Nam. Một số phương thức thực hiện công tác PR và IR hiệu quả, phù hợp với thực tiễn của thị trường tài chính Việt Nam đã được giới thiệu đến các doanh nghiệp.
Hội thảo là điểm kết nối hiệu quả giữa các doanh nghiệp, mở ra những cơ hội hợp tác mới và là nơi quảng bá hình ảnh của các doanh nghiệp với các đối tác trong và ngoài nước. Những thông tin hữu ích từ hội thảo sẽ giúp các DN chủ động trong quan hệ công chúng- PR và quan hệ nhà đầu tư - IR phù hợp với kế hoạch phát triển của mình.
Theo Báo Thương Mại
Hơn 100 đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp, các chuyên gia về truyền thông tài chính và chứng khoán đã tham dự hội thảo. Hội thảo tập trung vào chủ đề công tác PR và IR ở các doanh nghiệp Việt Nam.
Tại hội thảo, các chuyên gia có uy tín đã thuyết trình về mối quan hệ giữa hai hoạt động PR và IR. Bà Phạm Thanh Hà- Giám đốc Công ty cổ phần Megalink- cho rằng, các hoạt động quan hệ công chúng- PR đóng góp lớn cho việc xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tạo lập chỗ đứng cho riêng mình trên thị trường. Đồng thời, trên phương diện truyền thông tài chính, xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp chính là tạo dựng được niềm tin của nhà đầu tư vào giá trị tương lai của doanh nghiệp, hay còn gọi là quan hệ nhà đầu tư- IR.
Đặc biệt, ông Frank N.Hawkins- Giám đốc điều hành Tập đoàn Hawk Associates (Mỹ) đã chia sẻ những kinh nghiệm PR-IR của thị trường tài chính Mỹ. Ông Frank cho biết, theo nghiên cứu mới đây của tổ chức Rivel research Group, hoạt động IR tốt có thể khiến giá cổ phiếu tăng 10% và ngược lại, công tác IR tồi có thể làm giá trị cổ phiếu giảm tới 15%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hoạt động quan hệ nhà đầu tư IR đang ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tin tức hữu ích, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư.
Ông Đào Nam Anh- Chủ tịch HĐQT Công ty truyền thông đầu tư tài chính VFM đã nêu ra thực trạng hiện nay và những giải pháp về quan hệ nhà đầu tư IR của doanh nghiệp Việt Nam. Một số phương thức thực hiện công tác PR và IR hiệu quả, phù hợp với thực tiễn của thị trường tài chính Việt Nam đã được giới thiệu đến các doanh nghiệp.
Hội thảo là điểm kết nối hiệu quả giữa các doanh nghiệp, mở ra những cơ hội hợp tác mới và là nơi quảng bá hình ảnh của các doanh nghiệp với các đối tác trong và ngoài nước. Những thông tin hữu ích từ hội thảo sẽ giúp các DN chủ động trong quan hệ công chúng- PR và quan hệ nhà đầu tư - IR phù hợp với kế hoạch phát triển của mình.
Theo Báo Thương Mại
PR chính sách
(VNAD) - Một khái niệm được ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán SSI nhắc đến khi được đề nghị bình luận về Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN là "PR chính sách". Theo ông Hưng, việc ban hành Chỉ thị 03 là cần thiết và nhiều nước cũng có "03". Nhưng vấn đề là đưa ra thời điểm nào và nhằm mục đích gì?
Mục đích của Chỉ thị 03 là để kiểm soát rủi ro của các ngân hàng nhưng lại được hiểu là đưa ra ra để "cắt cơn" TTCK đang "sốt nóng"; vì thế, Chỉ thị 03 đã ảnh hưởng đến TTCK.
Ông Hưng cũng cho biết, chính sách bắt buộc mọi người phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy là một chính sách đã "PR" rất kỹ lưỡng, từ việc nghiên cứu xem có bao nhiêu người bị tai nạn chấn thương đầu do không đội mũ bảo hiểm, đến tuyên truyền hơn một năm trời để chính sách được mọi người đón nhận, thực thi một cách bình thường.
Câu chuyện PR chính sách không phải là mới nhưng dường như vẫn chưa được quan tâm một cách thích đáng. PR chính sách thể hiện rõ nét nhất qua việc ban hành và tuyên truyền Luật Doanh nghiệp năm 2000. Có hàng trăm bài báo viết về các tư tưởng, cách làm mới của Luật Doanh nghiệp. Để Luật Doanh nghiệp với tư tưởng đổi mới, nhưng đụng chạm đến quyền lợi của nhiều công chức, đặc biệt trong việc bãi bỏ giấy phép con, đi vào cuộc sống còn gian nan hơn nhiều ban hành chính sách bắt buộc đội mũ bảo hiểm. Thế nhưng, kinh nghiệm PR chính sách trong triển khai Luật Doanh nghiệp hay thực thi quy định đội mũ bảo hiểm dường như chưa được phổ biến đến các cơ quan quản lý nhà nước. Chỉ thị 03 là một ví dụ cho thấy điều đó.
Trong khi đó, UBCK đang nhắc nhở các công ty đại chúng phải làm tốt công tác PR, đặc biệt là làm tốt công tác quan hệ với cổ đông (IR). Sẽ không hiệu quả khi công ty đại chúng làm PR tốt mà cơ quan quản lý không PR tốt cho các chính sách sẽ được ban hành.
Theo ĐTCK
Mục đích của Chỉ thị 03 là để kiểm soát rủi ro của các ngân hàng nhưng lại được hiểu là đưa ra ra để "cắt cơn" TTCK đang "sốt nóng"; vì thế, Chỉ thị 03 đã ảnh hưởng đến TTCK.
Ông Hưng cũng cho biết, chính sách bắt buộc mọi người phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy là một chính sách đã "PR" rất kỹ lưỡng, từ việc nghiên cứu xem có bao nhiêu người bị tai nạn chấn thương đầu do không đội mũ bảo hiểm, đến tuyên truyền hơn một năm trời để chính sách được mọi người đón nhận, thực thi một cách bình thường.
Câu chuyện PR chính sách không phải là mới nhưng dường như vẫn chưa được quan tâm một cách thích đáng. PR chính sách thể hiện rõ nét nhất qua việc ban hành và tuyên truyền Luật Doanh nghiệp năm 2000. Có hàng trăm bài báo viết về các tư tưởng, cách làm mới của Luật Doanh nghiệp. Để Luật Doanh nghiệp với tư tưởng đổi mới, nhưng đụng chạm đến quyền lợi của nhiều công chức, đặc biệt trong việc bãi bỏ giấy phép con, đi vào cuộc sống còn gian nan hơn nhiều ban hành chính sách bắt buộc đội mũ bảo hiểm. Thế nhưng, kinh nghiệm PR chính sách trong triển khai Luật Doanh nghiệp hay thực thi quy định đội mũ bảo hiểm dường như chưa được phổ biến đến các cơ quan quản lý nhà nước. Chỉ thị 03 là một ví dụ cho thấy điều đó.
Trong khi đó, UBCK đang nhắc nhở các công ty đại chúng phải làm tốt công tác PR, đặc biệt là làm tốt công tác quan hệ với cổ đông (IR). Sẽ không hiệu quả khi công ty đại chúng làm PR tốt mà cơ quan quản lý không PR tốt cho các chính sách sẽ được ban hành.
Theo ĐTCK
"Quy luật mới của PR & Tiếp thị": Hé lộ những bí quyết mới
(VNAD) - Trước đây, giới PR và tiếp thị chỉ có thể truyền tải những thông điệp của mình thông qua những phương tiện truyền thông truyền thống. Nhưng ngày nay, Internet đã thay đổi hoàn toàn luật chơi, tạo nên những "Quy luật mới của PR & Tiếp thị".
“Quảng cáo thoái vị & PR lên ngôi” – AlRies & Laura Ries – đã đưa ra một xu thế mới đó là PR sẽ là người cầm lái dẫn dắt cho các hoạt động tiếp thị. Nhưng trong thời đại Internet thì “Quy luật mới của PR & Tiếp thị” – David Meerman Scott – sẽ mở ra cho bạn một hướng tiếp cận mới, trực tiếp và hiệu quả hơn rất nhiều thông qua Internet.
Đối với tất cả những ai đang sử dụng Internet, những quy luật cũ không mấy hiệu quả nữa, hay nói đúng hơn là lỗi thời và chẳng giúp ích gì cho họ cả. Internet đã làm thay đổi sâu sắc cách mọi người giao tiếp và tương tác với nhau. Nó cũng thay đổi cách mọi người thương thảo trong công việc làm ăn với khách hàng hiện tại và tiềm năng.
"Quy luật mới của PR và tiếp thị" hé lộ những bí quyết "thu phục" khách hàng và mở ra vận hội chưa từng có đối với mọi doanh nghiệp. Ngoài ra, khía cạnh thú vị nhất của quyển sách chính là đưa ra những ví dụ tiêu biểu nhất của những nhà tiếp thị thông minh đã xây dựng những chương trình tiếp thị và PR thành công trên mạng và có khoảng 50 nhân vật như thế trong quyển sách này.
“Quy luật mới của PR & Tiếp thị hé lộ những ý tưởng tuyệt vời thoát thai từ việc vận dụng những phương tiện thông tin đại chúng để đạt đến cái đích của thành công. Nó là cuốn cẩm nang vô song cho bất kỳ những ai muốn làm rạng danh bản thân hay tổ chức của mình”. – Mark Levy, đồng tác giả của quyển Bí quyết thu phục những người không muốn bị thu phục và là nhà sáng lập của Levy Innovation, một công ty chuyên hoạch định chiến lược tiếp thị.
'Quy luật mới của PR & Tiếp thị" do Youbooks – Vinabook.com xuất bản tại Việt Nam và được bán với giá 59.000 VNĐ.
Tác giả của cuốn sách là David Meerman Scott.
David Meerman Scott là chuyên gia hàng đầu và đình đám trong lĩnh vực hoạch định chiến lược tư duy thông qua trực tuyến. Những chương trình tiếp thị sản phẩm và dịch vụ của ông đã mang về vô số những giải thưởng và những món lợi nhuận khổng lồ trên toàn cầu.
Ông cũng là nhân vật đinh trong những cuộc hội thảo và sự kiện liên quan đến lĩnh vực này. Cái tên David Meerman Scott đã trở nên lẫy lừng và danh trấn trên 20 quốc gia khắp các châu lục.
David Meerman Scott - nhà tư vấn PR, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như "Cashing In With Content: How Innovative Marketers Use Digital Information to Turn Browsers Into Buyers" (Các nhà tiếp thị sáng tạo sử dụng các thông tin số hoá để chuyển người ghé thăm trang web thành khách hàng như thế nào), "The New Rules of Marketing and PR" (Quy luật mới của PR & Tiếp thị).
Sức Trẻ Việt Nam
“Quảng cáo thoái vị & PR lên ngôi” – AlRies & Laura Ries – đã đưa ra một xu thế mới đó là PR sẽ là người cầm lái dẫn dắt cho các hoạt động tiếp thị. Nhưng trong thời đại Internet thì “Quy luật mới của PR & Tiếp thị” – David Meerman Scott – sẽ mở ra cho bạn một hướng tiếp cận mới, trực tiếp và hiệu quả hơn rất nhiều thông qua Internet.
Đối với tất cả những ai đang sử dụng Internet, những quy luật cũ không mấy hiệu quả nữa, hay nói đúng hơn là lỗi thời và chẳng giúp ích gì cho họ cả. Internet đã làm thay đổi sâu sắc cách mọi người giao tiếp và tương tác với nhau. Nó cũng thay đổi cách mọi người thương thảo trong công việc làm ăn với khách hàng hiện tại và tiềm năng.
"Quy luật mới của PR và tiếp thị" hé lộ những bí quyết "thu phục" khách hàng và mở ra vận hội chưa từng có đối với mọi doanh nghiệp. Ngoài ra, khía cạnh thú vị nhất của quyển sách chính là đưa ra những ví dụ tiêu biểu nhất của những nhà tiếp thị thông minh đã xây dựng những chương trình tiếp thị và PR thành công trên mạng và có khoảng 50 nhân vật như thế trong quyển sách này.
“Quy luật mới của PR & Tiếp thị hé lộ những ý tưởng tuyệt vời thoát thai từ việc vận dụng những phương tiện thông tin đại chúng để đạt đến cái đích của thành công. Nó là cuốn cẩm nang vô song cho bất kỳ những ai muốn làm rạng danh bản thân hay tổ chức của mình”. – Mark Levy, đồng tác giả của quyển Bí quyết thu phục những người không muốn bị thu phục và là nhà sáng lập của Levy Innovation, một công ty chuyên hoạch định chiến lược tiếp thị.
'Quy luật mới của PR & Tiếp thị" do Youbooks – Vinabook.com xuất bản tại Việt Nam và được bán với giá 59.000 VNĐ.
Tác giả của cuốn sách là David Meerman Scott.
David Meerman Scott là chuyên gia hàng đầu và đình đám trong lĩnh vực hoạch định chiến lược tư duy thông qua trực tuyến. Những chương trình tiếp thị sản phẩm và dịch vụ của ông đã mang về vô số những giải thưởng và những món lợi nhuận khổng lồ trên toàn cầu.
Ông cũng là nhân vật đinh trong những cuộc hội thảo và sự kiện liên quan đến lĩnh vực này. Cái tên David Meerman Scott đã trở nên lẫy lừng và danh trấn trên 20 quốc gia khắp các châu lục.
David Meerman Scott - nhà tư vấn PR, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như "Cashing In With Content: How Innovative Marketers Use Digital Information to Turn Browsers Into Buyers" (Các nhà tiếp thị sáng tạo sử dụng các thông tin số hoá để chuyển người ghé thăm trang web thành khách hàng như thế nào), "The New Rules of Marketing and PR" (Quy luật mới của PR & Tiếp thị).
Sức Trẻ Việt Nam
Top Best PR Firms
1. Carter Ryley Thomas
From the start-when they broke away from Earle Palmer Brown to launch their own agency-Carter Ryley Thomas founders Mark Raper, J.R. Hipple and Mike Mulvehill have emphasized a values-based approach to agency management. The firm's nine shared values, which can be recited by almost all employees, emphasize respect for the individual, shared responsibility, and work-life balance, and they have given rise to a unique agency culture.
Of course it helps that CRT is one of only a handful of employee-owned PR firms, and that its employee ownership plan is uniquely democratic. It includes not only senior executives but every employee, from account managers to the administrative staff. And no single individual owns more than 17 percent of the company.
But CRT works at creating a great work environment on a daily basis. The firm reinforces its culture through its "We Work" employee recognition plan. Each year, employees are given 12 "We work" slips that they can distribute to colleagues who are living the values. Each quarter, the individual who has received the most slips is rewarded with a prize, which can range from dinner for two at a local restaurant to cleaning service to car detailing.
The firm also has an extensive community involvement program, a comprehensive benefits package, and is in the process of developing an on-site childcare facility.
2. The Horn Group
In the technology sector, the competition for good people has been brutal, so it's not surprising that six of our top 10 firms are specialists in high-tech PR. It's also no surprise that The Horn Group leads them, since Sabrina Horn's firm has won numerous awards for its progressive workplace policies, including "Best Employer" recognition from Working Woman magazine, and an "Excellence in the Bay Area Workplace" nod from the Career Education Center.
Working Woman cited Horn for its "eye-popping benefits packages" and employees at the firm agree, giving their employer high marks for its overall compensation package and for its health benefits in particular. But staffers also praised the physical workspace and the entrepreneurial culture: it scored a perfect 5.0 from employees who were asked whether they agreed that, "my agency encourages people to use their initiative." The firm also scored high marks for its professional development programs and its efforts to balance work-life issues.
3. Citigate Cunningham
Citigate Cunningham-previously Cunningham Communication-was one of the pioneers of the progressive workplace in the public relations industry, investing in professional development and work-life balance long before it was fashionable. The agency continues to be regarded as an employer of choice in Silicon Valley, ranking in the top 15 when survey respondents were asked which agency they would most like to join.
Citigate Cunningham provides three weeks vacation in the first year, and a six-week paid sabbatical after four years. It offers adaptable work schedules, including telecommuting, and the ability to divide the 40-hour work week into four ten-hour days as opposed to the standard five eight-hour days. There are emergency child-care and lactation facilities, an onsite gym, and a computer purchase plan as well as a monthly allowance for DSL lines and cable modems. Onsite massage therapists and yoga classes help employees relax, and there are free beverages and snacks in the kitchen.
4. Fitzgerald Communications
Founded by Cunningham Communication alumna Maura FitzGerald, Cambridge-based FitzGerald Communications is another technology PR specialist with a winning culture, built on a strong foundation of values: a focus on people; a results orientation; open communication; and innovation. The firm maintains its culture, despite its expansion to new office locations, through joint staff meetings, professional development programming and brainstorming, and by transferring staff between offices.
The training program is particularly impressive, from the new hire "boot camp" that introduces employees at all levels to the FitzGerald way of doing things to core skills training to management training offsite. There's a buddy program for new hires and a mentor program that has been recognized by Inc. magazine. On a lighter note, the agency offers a concierge service, a company-sponsored boating club membership, and onsite pick-up and delivery for dry cleaning.
5. Cone
Among the things that people like best about Cone are the challenging nature of the work and the feeling that what they do makes a difference. Cone is a leader in cause-related marketing, best known as one of the PR industry's most creative big-idea agencies, and for many employees that translates into tremendous job satisfaction-further enhanced by the agency's volunteerism program, which gives employees four hours of additional personal time a month to pursue volunteer interests.
The agency backs that up with a training program that puts many much larger firms to shame-up to 120 hours a year per employee, plus a tuition reimbursement program-as well as generous benefits and bonuses. Employees become eligible for a 401k plan on their first day at the agency, and are entitled to three-and-a-half weeks vacation in the first year. Cone also pays up to $300 for smoking cessation programs-or employees can quit on their own for the $300 in cash.
6. Fleishman-Hillard
Fleishman-Hillard is the highest rated of all the major agencies ($100 million-plus) on our "Best Agencies to Work For" list, scoring high marks from its own employees and coming in second only to Ketchum as a favored place to work among employees of other firms.
Fleishman was rated the most stimulating workplace environment, with employees that they feel challenged by their assignments and valued by their clients. The firm also scored high marks for its professional development program, its commitment to ethics, and its 360-degree feedback program. Most large firms don't offer the same level of flexibility as their smaller, niche competitors, but F-H is clearly trying, providing employees with part-time positions, lengthy leaves of absence, and summer hours tailored on an office-by-office basis.
7. PepperCom
Our survey didn't solicit actual salary information, but PepperCom's people certainly feel well rewarded, giving the firm the high marks for its generous pay and its benefits, which include medical insurance (including dental), a 401k plan, and life and long-term disability insurance. The firm also offers an impressive professional development program-PepperCom State University-and some of the most progressive perks in the industry: a visiting nurse from Mount Sinai Medical Center comes to the office to provide blood pressure testing and administer flu shots; there's a game room; a kitchen stocked with sodas and snacks; and options in Partnership Central, the company's e-business initiative.
8. Greenough Communications Group
The smallest and newest firm in the top 10 is Greenough Communications Group, another technology specialist, launched in October 1999 by former Weber Group executive vice president Phil Greenough. The agency scored high marks across the board on our employee survey, with staffers praising the entrepreneurial culture-there's little hierarchy, and industry veterans work alongside younger account professionals in a collaborative atmosphere with no boundaries-and the first-rate benefits.
9. Porter Novelli
Porter Novelli has long been known for its commitment to creating a collaborative, collegial culture. It ranked fourth among employees of other firms when asked where they would most like to work, and scored high marks (second among major agencies only to Omnicom sister agency Fleishman-Hillard) when its own employees were polled. PN's culture is distinguished by its commitment to community, its commitment to learning, and its commitment to work-life balance-offerings include telecommuting, flexible working arrangement, unpaid leave, employee assistance programs such as backup childcare, concierge services, and a variety of counseling services.
10. The ProMarc Agency
Four committees help ProMarc Agency founder Alisa Fogelman-Beyer ensure that the culture at this Washington-based high-tech specialist continues to attract and retain the best and the brightest. The President's Council oversees the company's 360-degree Feedback program, and handles any issues that employees may feel more comfortable discussing outside of management's earshot; the Training Committee makes sure the professional development programs are among the industry's best; the Emerging Leaders group provides management grooming; and the Leadership Team brings together the president, COO and VP for regular meetings that include discussion of the firm's vision and culture.
11. The Hoffman Agency
An international niche firm-this technology shop has operations in the U.S., throughout the Asia-Pacific region, and now in Europe-The Hoffman Agency is able to offer employees the opportunity to transfer between domestic and overseas offices, gaining valuable international experience. The firm also scores high marks for its ethics and integrity, for its overall compensation, and for generous vacation policies (20 days in the first year). Agency president Lou Hoffman also retains an external HR consultancy to allow employees to evaluate his performance.
12. Schenkein
Every member of Schenkein's staff, from the receptionist on up, has his or her own "coach," a senior staff member who is responsible for their trainee's growth and development. Coaches develop a "personal development program" designed to reflect the personal and professional goals of each individual, then they encourage feedback on a regular basis. Says one employee: "I am motivated to contribute to our culture and work environment because of the support I feel from the agency and my coach. I don't feel that I can 'fail.' That is a word that is not used here."
13. Ketchum*
Over the years, no top-tier agency has invested more in human resources than Ketchum. Its professional development program is rated the best in the industry, and employees consistently praise the firm's collegial atmosphere and open management style, which fosters creativity and helps keep employee turnover well below the industry average. The payoff: Ketchum was the number one choice of employees industry-wide when they were asked where they would most like to work, and the agency finished higher than any other firm that did not participate in the employee survey.
14. Paine PR
Paine PR has always been a values-driven business, built on the belief that people come first-even before profits-and that employees have certain inalienable rights: a right to fairness, openness, participation, self-determination, honesty, and respect. Founder David Paine designed the firm to be responsive to those needs, an approach that has resulted in decisions that wouldn't get made at other firms: when salaries started rising, Paine adjusted the compensation of everyone at the firm upwards to match the increased demands of new hires. Paine distributes 15 percent of pretax profits to staff, makes sure that women don't get off the fast track when they start families, and offers partially paid sabbaticals of up to four months.
15. Chandler Chicco Agency
Bob Chandler and Gianfranco Chicco have created one of the least bureaucratic, least hierarchical agency cultures in the country, eliminating job titles, eschewing individual offices and other physical barriers to teamwork, and structuring teams on which it's not unusual for a principal of the firm to report to an employee. The agency was also among the first to provide daily free catered lunches-not to keep staff in the office longer but to foster congeniality and teamwork. The agency also has a terrific training program, including CCA Boot Camp, a weekend offsite that hones professional skills and encourages collaboration.
16. Metzger Associates*
Metzger & Associates offers a wide range of benefits, from the traditional (a 401k funded with 15 percent of pretax profits; comprehensive health coverage) to the non-traditional. The firm's Live Long & Prosper benefit program provides financial assistance for healthy activities ranging gym memberships to skiing lessons and educational activities ranging from guitar lessons to public speaking classes. There's also a stipend for professional development, and a sabbatical program. And the office space-a historical school building on Boulder Creek-is among the most spectacular in the industry.
17. Manning Selvage & Lee
Manning Selvage & Lee president Lou Capozzi promised to transform the firm into an employer of choice among the major agencies, and there are signs that he's already succeeding. MS&L scores high marks from employees for its expanded professional development program, Passport, and for a culture that provides equal opportunities to everyone. External recognition for the agency's good work has been slow in coming, however: MS&L ranked just 10th among employees of other firms.
18. Magnet Communications
The turnaround at Magnet Communications (formerly Creamer Dickson Basford) has been nothing short of remarkable. The firm, once regarded as a sweatshop, has developed into one of the most progressive workplaces in the industry, thanks to unique programs including a Bring Your Parents to Work Day that allows staff to show their families exactly what they do for a living. The firm scores especially high marks for initiatives that help employees balance professional and personal needs.
19. Burson-Marsteller*
Despite its reputation for bureaucracy and hierarchy, Burson-Marsteller scores high marks from employees for its professional development program-among the most comprehensive in the industry-and for its intellectually stimulating work environment. And employees recognize that B-M is working hard to help its people balance work and life issues. Employees of other agencies, meanwhile, rank Burson third on the list of places they would most like to work.
20. Edelman Public Relations Worldwide
Edelman has the most entrepreneurial environment among the major agencies, and it also scores high marks for compensation and benefit packages, and for providing an intellectually stimulating workplace. The firm recently went through a "vision, mission, values" exercise designed in part to create a more people-friendly workplace, and it appears to be paying off. Employees of other agencies rank Edelman fifth on the list of places they would most like to work.
21. Sterling Hager
Sterling Hager is a technology specialist that combines intellectually stimulating work, an impressive professional development program, and a genuine commitment to balancing work and life issues.
22. Hill & Knowlton
Hill & Knowlton ranks among the best places for women and minorities in the industry-a pioneer of gay-friendly workplace policies-and appears to be getting its luster back: employees of other agencies ranked H&K sixth on the list of places they would most like to work.
23. Collaborative Communications
The name says it all: Collaborative provides a team-oriented, supportive environment where the emphasis is on learning and client service, and makes a genuine commitment to helping employees achieve work-life balance.
24. Edward Howard & Company
Edward Howard is 100 percent employee-owned, and offers both a 401k plan and a profit sharing plan, as well as newly-introduced financial planning services for employees. The Cleveland agency also offers first-rate training through EH&Co. College-and makes it available to both professional and administrative staff.
25. Ogilvy Public Relations
Ogilvy has invested heavily in its AGK (Attracting, Growing, Keeping) plan over the past 12 months, with a major focus on upgrading employee benefits-offering three weeks of vacation at hire, for example. Employees are also eligible to enroll in the firm's 401k one month after they join the firm.
From the start-when they broke away from Earle Palmer Brown to launch their own agency-Carter Ryley Thomas founders Mark Raper, J.R. Hipple and Mike Mulvehill have emphasized a values-based approach to agency management. The firm's nine shared values, which can be recited by almost all employees, emphasize respect for the individual, shared responsibility, and work-life balance, and they have given rise to a unique agency culture.
Of course it helps that CRT is one of only a handful of employee-owned PR firms, and that its employee ownership plan is uniquely democratic. It includes not only senior executives but every employee, from account managers to the administrative staff. And no single individual owns more than 17 percent of the company.
But CRT works at creating a great work environment on a daily basis. The firm reinforces its culture through its "We Work" employee recognition plan. Each year, employees are given 12 "We work" slips that they can distribute to colleagues who are living the values. Each quarter, the individual who has received the most slips is rewarded with a prize, which can range from dinner for two at a local restaurant to cleaning service to car detailing.
The firm also has an extensive community involvement program, a comprehensive benefits package, and is in the process of developing an on-site childcare facility.
2. The Horn Group
In the technology sector, the competition for good people has been brutal, so it's not surprising that six of our top 10 firms are specialists in high-tech PR. It's also no surprise that The Horn Group leads them, since Sabrina Horn's firm has won numerous awards for its progressive workplace policies, including "Best Employer" recognition from Working Woman magazine, and an "Excellence in the Bay Area Workplace" nod from the Career Education Center.
Working Woman cited Horn for its "eye-popping benefits packages" and employees at the firm agree, giving their employer high marks for its overall compensation package and for its health benefits in particular. But staffers also praised the physical workspace and the entrepreneurial culture: it scored a perfect 5.0 from employees who were asked whether they agreed that, "my agency encourages people to use their initiative." The firm also scored high marks for its professional development programs and its efforts to balance work-life issues.
3. Citigate Cunningham
Citigate Cunningham-previously Cunningham Communication-was one of the pioneers of the progressive workplace in the public relations industry, investing in professional development and work-life balance long before it was fashionable. The agency continues to be regarded as an employer of choice in Silicon Valley, ranking in the top 15 when survey respondents were asked which agency they would most like to join.
Citigate Cunningham provides three weeks vacation in the first year, and a six-week paid sabbatical after four years. It offers adaptable work schedules, including telecommuting, and the ability to divide the 40-hour work week into four ten-hour days as opposed to the standard five eight-hour days. There are emergency child-care and lactation facilities, an onsite gym, and a computer purchase plan as well as a monthly allowance for DSL lines and cable modems. Onsite massage therapists and yoga classes help employees relax, and there are free beverages and snacks in the kitchen.
4. Fitzgerald Communications
Founded by Cunningham Communication alumna Maura FitzGerald, Cambridge-based FitzGerald Communications is another technology PR specialist with a winning culture, built on a strong foundation of values: a focus on people; a results orientation; open communication; and innovation. The firm maintains its culture, despite its expansion to new office locations, through joint staff meetings, professional development programming and brainstorming, and by transferring staff between offices.
The training program is particularly impressive, from the new hire "boot camp" that introduces employees at all levels to the FitzGerald way of doing things to core skills training to management training offsite. There's a buddy program for new hires and a mentor program that has been recognized by Inc. magazine. On a lighter note, the agency offers a concierge service, a company-sponsored boating club membership, and onsite pick-up and delivery for dry cleaning.
5. Cone
Among the things that people like best about Cone are the challenging nature of the work and the feeling that what they do makes a difference. Cone is a leader in cause-related marketing, best known as one of the PR industry's most creative big-idea agencies, and for many employees that translates into tremendous job satisfaction-further enhanced by the agency's volunteerism program, which gives employees four hours of additional personal time a month to pursue volunteer interests.
The agency backs that up with a training program that puts many much larger firms to shame-up to 120 hours a year per employee, plus a tuition reimbursement program-as well as generous benefits and bonuses. Employees become eligible for a 401k plan on their first day at the agency, and are entitled to three-and-a-half weeks vacation in the first year. Cone also pays up to $300 for smoking cessation programs-or employees can quit on their own for the $300 in cash.
6. Fleishman-Hillard
Fleishman-Hillard is the highest rated of all the major agencies ($100 million-plus) on our "Best Agencies to Work For" list, scoring high marks from its own employees and coming in second only to Ketchum as a favored place to work among employees of other firms.
Fleishman was rated the most stimulating workplace environment, with employees that they feel challenged by their assignments and valued by their clients. The firm also scored high marks for its professional development program, its commitment to ethics, and its 360-degree feedback program. Most large firms don't offer the same level of flexibility as their smaller, niche competitors, but F-H is clearly trying, providing employees with part-time positions, lengthy leaves of absence, and summer hours tailored on an office-by-office basis.
7. PepperCom
Our survey didn't solicit actual salary information, but PepperCom's people certainly feel well rewarded, giving the firm the high marks for its generous pay and its benefits, which include medical insurance (including dental), a 401k plan, and life and long-term disability insurance. The firm also offers an impressive professional development program-PepperCom State University-and some of the most progressive perks in the industry: a visiting nurse from Mount Sinai Medical Center comes to the office to provide blood pressure testing and administer flu shots; there's a game room; a kitchen stocked with sodas and snacks; and options in Partnership Central, the company's e-business initiative.
8. Greenough Communications Group
The smallest and newest firm in the top 10 is Greenough Communications Group, another technology specialist, launched in October 1999 by former Weber Group executive vice president Phil Greenough. The agency scored high marks across the board on our employee survey, with staffers praising the entrepreneurial culture-there's little hierarchy, and industry veterans work alongside younger account professionals in a collaborative atmosphere with no boundaries-and the first-rate benefits.
9. Porter Novelli
Porter Novelli has long been known for its commitment to creating a collaborative, collegial culture. It ranked fourth among employees of other firms when asked where they would most like to work, and scored high marks (second among major agencies only to Omnicom sister agency Fleishman-Hillard) when its own employees were polled. PN's culture is distinguished by its commitment to community, its commitment to learning, and its commitment to work-life balance-offerings include telecommuting, flexible working arrangement, unpaid leave, employee assistance programs such as backup childcare, concierge services, and a variety of counseling services.
10. The ProMarc Agency
Four committees help ProMarc Agency founder Alisa Fogelman-Beyer ensure that the culture at this Washington-based high-tech specialist continues to attract and retain the best and the brightest. The President's Council oversees the company's 360-degree Feedback program, and handles any issues that employees may feel more comfortable discussing outside of management's earshot; the Training Committee makes sure the professional development programs are among the industry's best; the Emerging Leaders group provides management grooming; and the Leadership Team brings together the president, COO and VP for regular meetings that include discussion of the firm's vision and culture.
11. The Hoffman Agency
An international niche firm-this technology shop has operations in the U.S., throughout the Asia-Pacific region, and now in Europe-The Hoffman Agency is able to offer employees the opportunity to transfer between domestic and overseas offices, gaining valuable international experience. The firm also scores high marks for its ethics and integrity, for its overall compensation, and for generous vacation policies (20 days in the first year). Agency president Lou Hoffman also retains an external HR consultancy to allow employees to evaluate his performance.
12. Schenkein
Every member of Schenkein's staff, from the receptionist on up, has his or her own "coach," a senior staff member who is responsible for their trainee's growth and development. Coaches develop a "personal development program" designed to reflect the personal and professional goals of each individual, then they encourage feedback on a regular basis. Says one employee: "I am motivated to contribute to our culture and work environment because of the support I feel from the agency and my coach. I don't feel that I can 'fail.' That is a word that is not used here."
13. Ketchum*
Over the years, no top-tier agency has invested more in human resources than Ketchum. Its professional development program is rated the best in the industry, and employees consistently praise the firm's collegial atmosphere and open management style, which fosters creativity and helps keep employee turnover well below the industry average. The payoff: Ketchum was the number one choice of employees industry-wide when they were asked where they would most like to work, and the agency finished higher than any other firm that did not participate in the employee survey.
14. Paine PR
Paine PR has always been a values-driven business, built on the belief that people come first-even before profits-and that employees have certain inalienable rights: a right to fairness, openness, participation, self-determination, honesty, and respect. Founder David Paine designed the firm to be responsive to those needs, an approach that has resulted in decisions that wouldn't get made at other firms: when salaries started rising, Paine adjusted the compensation of everyone at the firm upwards to match the increased demands of new hires. Paine distributes 15 percent of pretax profits to staff, makes sure that women don't get off the fast track when they start families, and offers partially paid sabbaticals of up to four months.
15. Chandler Chicco Agency
Bob Chandler and Gianfranco Chicco have created one of the least bureaucratic, least hierarchical agency cultures in the country, eliminating job titles, eschewing individual offices and other physical barriers to teamwork, and structuring teams on which it's not unusual for a principal of the firm to report to an employee. The agency was also among the first to provide daily free catered lunches-not to keep staff in the office longer but to foster congeniality and teamwork. The agency also has a terrific training program, including CCA Boot Camp, a weekend offsite that hones professional skills and encourages collaboration.
16. Metzger Associates*
Metzger & Associates offers a wide range of benefits, from the traditional (a 401k funded with 15 percent of pretax profits; comprehensive health coverage) to the non-traditional. The firm's Live Long & Prosper benefit program provides financial assistance for healthy activities ranging gym memberships to skiing lessons and educational activities ranging from guitar lessons to public speaking classes. There's also a stipend for professional development, and a sabbatical program. And the office space-a historical school building on Boulder Creek-is among the most spectacular in the industry.
17. Manning Selvage & Lee
Manning Selvage & Lee president Lou Capozzi promised to transform the firm into an employer of choice among the major agencies, and there are signs that he's already succeeding. MS&L scores high marks from employees for its expanded professional development program, Passport, and for a culture that provides equal opportunities to everyone. External recognition for the agency's good work has been slow in coming, however: MS&L ranked just 10th among employees of other firms.
18. Magnet Communications
The turnaround at Magnet Communications (formerly Creamer Dickson Basford) has been nothing short of remarkable. The firm, once regarded as a sweatshop, has developed into one of the most progressive workplaces in the industry, thanks to unique programs including a Bring Your Parents to Work Day that allows staff to show their families exactly what they do for a living. The firm scores especially high marks for initiatives that help employees balance professional and personal needs.
19. Burson-Marsteller*
Despite its reputation for bureaucracy and hierarchy, Burson-Marsteller scores high marks from employees for its professional development program-among the most comprehensive in the industry-and for its intellectually stimulating work environment. And employees recognize that B-M is working hard to help its people balance work and life issues. Employees of other agencies, meanwhile, rank Burson third on the list of places they would most like to work.
20. Edelman Public Relations Worldwide
Edelman has the most entrepreneurial environment among the major agencies, and it also scores high marks for compensation and benefit packages, and for providing an intellectually stimulating workplace. The firm recently went through a "vision, mission, values" exercise designed in part to create a more people-friendly workplace, and it appears to be paying off. Employees of other agencies rank Edelman fifth on the list of places they would most like to work.
21. Sterling Hager
Sterling Hager is a technology specialist that combines intellectually stimulating work, an impressive professional development program, and a genuine commitment to balancing work and life issues.
22. Hill & Knowlton
Hill & Knowlton ranks among the best places for women and minorities in the industry-a pioneer of gay-friendly workplace policies-and appears to be getting its luster back: employees of other agencies ranked H&K sixth on the list of places they would most like to work.
23. Collaborative Communications
The name says it all: Collaborative provides a team-oriented, supportive environment where the emphasis is on learning and client service, and makes a genuine commitment to helping employees achieve work-life balance.
24. Edward Howard & Company
Edward Howard is 100 percent employee-owned, and offers both a 401k plan and a profit sharing plan, as well as newly-introduced financial planning services for employees. The Cleveland agency also offers first-rate training through EH&Co. College-and makes it available to both professional and administrative staff.
25. Ogilvy Public Relations
Ogilvy has invested heavily in its AGK (Attracting, Growing, Keeping) plan over the past 12 months, with a major focus on upgrading employee benefits-offering three weeks of vacation at hire, for example. Employees are also eligible to enroll in the firm's 401k one month after they join the firm.
13 kỹ năng của PR chuyên nghiệp trong tương lai
PR đang phát triển thành một lĩnh vực riêng biệt trong khi quảng cáo truyền thống - hay có thể gọi bằng bất kỳ tên gọi nào - đang trở nên ế ẩm.
Dưới đây là hình ảnh bộ não PR, trong đó:
20% tư duy kỹ thuật số
20% tư duy chiến lược
15% tư duy truyền thông báo chí
10% tư duy nghệ thuật truyền miệng
10% khả năng nghiên cứu
7% tư duy liên kết, hợp tác
7% tư duy quản lý khủng hoảng
5% tư duy tổ chức sự kiện
5% tư duy thương hiệu
3% CSR
Pr_brain2
Marketing & PR đang đi đến chỗ rất gần với nhau. PR đang phát triển thành một lĩnh vực riêng biệt trong khi quảng cáo truyền thống - hay có thể gọi bằng bất kỳ tên gọi nào - đang trở nên ế ẩm. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đưa ra được một thước đo chính xác nào hay mối liên hệ nào về tỷ lệ lợi nhuận trên đầu tư (ROI) ở lĩnh vực PR. Chuyện gì đã xảy ra với những khẳng định chắc chắn và lời kêu gọi hành động của AG Lafley? (Alan George Lafley - CEO, Tổng Giám đốc, Chủ tịch hội đồng quản trị của Procter & Gamble - ND).
Khi tôi làm việc với các sinh viên thuộc chương trình Johns Hopkins Communications năm nay, tôi đã vẽ ra được tập hợp những kỹ năng cần thiết cho một chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông trong tương lai.
Trong những năm vừa qua tại Ogilvy (1 PR Firms được xếp thứ 25 trong top những công ty PR hàng đầu thế giới), chúng tôi đã đưa ra những chương trình đào tạo mà tôi cho là sâu sắc nhất dành cho nhân viên. Trong khi chúng tôi tập trung vào "kỹ thuật số" và "tác động kỹ thuật số", thì có rất nhiều kỹ năng khác thực sự cần thiết cho những chuyên gia truyền thông thế hệ tiếp theo (liệu chúng ta có nên cho thuật ngữ "public relations" nghỉ hưu đi không nhỉ?).
Thế hệ tiếp theo cần phải có những kỹ năng mạnh mẽ hơn. Tôi bắt đầu quá trình tìm hiểu kỹ từng kỹ năng một để đưa ra những "how-to's" thực tế có từng kỹ năng. Hãy tìm kiếm thêm các kỹ năng trong tương lai, thậm chí bạn tự tạo ra cho mình kỹ năng mới và liên hệ lại với những kỹ năng dưới đây:
13 kỹ năng của PR chuyên nghiệp trong tương lai
1. Xây dựng chiến lược marketing và truyền thông tích hợp
2. Triển khai 'listening posts' trực tiếp online và offline
3. Thiết kế và triển khai một chương trình tối ưu hóa công cụ tìm kiếm nâng cao
4. Lập kế hoạch và tiến hành một chương trình quan hệ báo chí mới bao gồm "head-of-the-tail" và long tail "media"
5. Phát hiện và liên kết những người có ảnh hưởng online và offline
6. Quản lý cộng đồng
7. Tích hợp các công nghệ mới vào thực tiễn cuộc sống
8. Xây dựng các công cụ đo lường bao gồm thước đo "khả năng cam kết" mới
9. Thực hiện các chương trình thí điểm nhanh chóng và thực hiện đánh giá luôn trong quá trình thực hiện.
10. Đào tạo nhân viên và khách hàng một cách liên tục
11. Tham gia vào "giao tiếp" 'conversations', chứ không phải chỉ là "nhắn tin" 'messaging'
12. Thiết kế và thực hiện chiến lược nội dung bao gồm cả thiết kế video (hifi và lowfi)
13. Sử dụng công cụ kỹ thuật số để quản lý khủng hoảng
Cảm ơn Nate Pagel, Rohit Bhargava, Virginia Miracle, Kaitlyn Wilkins, Brian Giesen, Chris Brogan, Chi-chi Ekweozor, John D. , Phil M., Harro và Brendan Hodgson về những ý kiến và suy nghĩ về danh sách các kỹ năng này.
Nếu bạn biết kỹ năng thứ 14 - hãy thêm nào bởi vì danh sách này sẽ luôn luôn thay đổi.
John Bell - PR Expert - Ogilvy
Dưới đây là hình ảnh bộ não PR, trong đó:
20% tư duy kỹ thuật số
20% tư duy chiến lược
15% tư duy truyền thông báo chí
10% tư duy nghệ thuật truyền miệng
10% khả năng nghiên cứu
7% tư duy liên kết, hợp tác
7% tư duy quản lý khủng hoảng
5% tư duy tổ chức sự kiện
5% tư duy thương hiệu
3% CSR
Pr_brain2
Marketing & PR đang đi đến chỗ rất gần với nhau. PR đang phát triển thành một lĩnh vực riêng biệt trong khi quảng cáo truyền thống - hay có thể gọi bằng bất kỳ tên gọi nào - đang trở nên ế ẩm. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đưa ra được một thước đo chính xác nào hay mối liên hệ nào về tỷ lệ lợi nhuận trên đầu tư (ROI) ở lĩnh vực PR. Chuyện gì đã xảy ra với những khẳng định chắc chắn và lời kêu gọi hành động của AG Lafley? (Alan George Lafley - CEO, Tổng Giám đốc, Chủ tịch hội đồng quản trị của Procter & Gamble - ND).
Khi tôi làm việc với các sinh viên thuộc chương trình Johns Hopkins Communications năm nay, tôi đã vẽ ra được tập hợp những kỹ năng cần thiết cho một chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông trong tương lai.
Trong những năm vừa qua tại Ogilvy (1 PR Firms được xếp thứ 25 trong top những công ty PR hàng đầu thế giới), chúng tôi đã đưa ra những chương trình đào tạo mà tôi cho là sâu sắc nhất dành cho nhân viên. Trong khi chúng tôi tập trung vào "kỹ thuật số" và "tác động kỹ thuật số", thì có rất nhiều kỹ năng khác thực sự cần thiết cho những chuyên gia truyền thông thế hệ tiếp theo (liệu chúng ta có nên cho thuật ngữ "public relations" nghỉ hưu đi không nhỉ?).
Thế hệ tiếp theo cần phải có những kỹ năng mạnh mẽ hơn. Tôi bắt đầu quá trình tìm hiểu kỹ từng kỹ năng một để đưa ra những "how-to's" thực tế có từng kỹ năng. Hãy tìm kiếm thêm các kỹ năng trong tương lai, thậm chí bạn tự tạo ra cho mình kỹ năng mới và liên hệ lại với những kỹ năng dưới đây:
13 kỹ năng của PR chuyên nghiệp trong tương lai
1. Xây dựng chiến lược marketing và truyền thông tích hợp
2. Triển khai 'listening posts' trực tiếp online và offline
3. Thiết kế và triển khai một chương trình tối ưu hóa công cụ tìm kiếm nâng cao
4. Lập kế hoạch và tiến hành một chương trình quan hệ báo chí mới bao gồm "head-of-the-tail" và long tail "media"
5. Phát hiện và liên kết những người có ảnh hưởng online và offline
6. Quản lý cộng đồng
7. Tích hợp các công nghệ mới vào thực tiễn cuộc sống
8. Xây dựng các công cụ đo lường bao gồm thước đo "khả năng cam kết" mới
9. Thực hiện các chương trình thí điểm nhanh chóng và thực hiện đánh giá luôn trong quá trình thực hiện.
10. Đào tạo nhân viên và khách hàng một cách liên tục
11. Tham gia vào "giao tiếp" 'conversations', chứ không phải chỉ là "nhắn tin" 'messaging'
12. Thiết kế và thực hiện chiến lược nội dung bao gồm cả thiết kế video (hifi và lowfi)
13. Sử dụng công cụ kỹ thuật số để quản lý khủng hoảng
Cảm ơn Nate Pagel, Rohit Bhargava, Virginia Miracle, Kaitlyn Wilkins, Brian Giesen, Chris Brogan, Chi-chi Ekweozor, John D. , Phil M., Harro và Brendan Hodgson về những ý kiến và suy nghĩ về danh sách các kỹ năng này.
Nếu bạn biết kỹ năng thứ 14 - hãy thêm nào bởi vì danh sách này sẽ luôn luôn thay đổi.
John Bell - PR Expert - Ogilvy
Cơ sở để chiến dịch PR thành công
Am hiểu các phương tiện truyền thông – cơ sở để chiến dịch PR thành công
PR (Quan hệ cộng đồng) tuy tốn kém nhưng sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc thuê nhân viên tiếp thị mang thông tin sản phẩm tới tận từng khách hàng. Vì vậy, thay vì gửi e-mail trực tiếp tới 100,000 khách hàng tương lai, các chuyên gia tiếp thị có thể làm truyền thông dưới dạng các bài viết trên báo bởi chi phí thấp mà vẫn truyền tải thông tin đến cùng một số lượng khách hàng.
Nhiều công ty có sản phẩm bị giới hạn về vị trí trưng bày và khoảng rộng trong cửa hàng. Điều đó rất quan trọng vì nó mang lại lợi thế cạnh tranh, nếu như sản phẩm của đối thủ được đặt ở nơi khác thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm của bạn.
Hãy hiểu rằng yêu cầu của thị trường là rất quan trọng trong việc bán hàng hóa hay dịch vụ. Môt điều vô cùng quan trọng là lựa chọn một phương tiện truyền thông thích hợp, nó góp phần tạo nên thành công.
Nhà cung cấp tài liệu đáng tin cậy
Các phương tiện thông tin đại chúng bản thân nó đã có sự khác biệt, và đó là sự khác biệt về khối lượng và các vấn đề liên quan đến công việc biên tập. Các loại báo, báo thương mại quốc gia, và nhiều lọai báo thương mại khác có các đối tượng người đọc khác nhau, vì vậy cách biên tập cũng sẽ khác biệt lớn.
Ví dụ như các nhà biên tập về công nghệ thông tin trong tuần sẽ phụ trách tòan bộ các vấn đề về công nghệ thông tin kỹ thuật, gần giống như tạo ra một cuốn tạp chí. Yếu tố quan trọng để thành công là giữ được mối quan hệ thân thiết với nhà biên tập và lựa chọn chủ đề thật hấp dẫn để viết. Cách tốt nhất để xuất bản và giữ mối quan hệ lâu dài với nhà biên tập là thuê nhân viên quan hệ công chúng tòan thời gian hoặc ký hợp đồng với nhà đại diện.
Đa số các báo thương mại chú trọng những lĩnh vực nhỏ hẹp, họ không phát hành rộng rãi hoặc quảng cáo để lấy tiền trang trải cho nhân viên biên tập. Các báo này phụ thuộc vào các công ty bên ngòai vì các công ty này cung cấp tài liệu để họ biên tập.
Mặc dầu việc xuất bản tài liệu tùy thuộc vào những cơ quan muốn xuất bản nhưng việc lựa chọn loại tài liệu nào để xuất bản thì rất quan trọng. Vì vậy, sự thành công được quyết định bởi khả năng sử dụng kỹ thuật viết báo. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là xuất bản chủ đề nào có thể gây hứng thú cho ngừơi đọc.
Mối quan hệ với phòng PR nội bộ
Việc xuất bản báo thương mại và phương tiện thông tin trực tuyến đòi hỏi sự nỗ lực trong PR. Các công ty tư vấn về PR không có đủ kỹ năng để làm được điều đó vì họ thường thiếu kỹ năng viết lách.
Một bất lợi khác là các văn phòng đại diện PR truyền thống giữ lại những nhân viên cũ căn cứ trên thời gian cam kết của họ. Những người này không có tính uyển chuyển trong công việc như một nhân viên tiếp thị, vì vậy PR không được đảm bảo.
Các công ty PR đang từng bước lắp đầy khoảng trống này. Loại thứ nhất là làm việc tự do, họ có kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực nào đó. Những nhà biên tập lâu năm có thể cung cấp kiến thức trong việc tạo ra một bài báo thuộc một lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, những người làm việc tự do này là những nhà điều hành độc lập, họ chỉ biết viết bài chứ không có mối quan hệ với các nhà biên tập báo, họ chỉ thu thập nguồn thông tin, hình ảnh v.v.
Đối với lĩnh vực kỹ thuật, họ đưa ra phương hướng cho dự án bằng cách cung cấp những bài báo viết về lĩnh vưc đó để hỗ trợ. Song song đó, có các nhân viên phụ giúp công việc in ấn. Những công ty tư vấn PR được trả tiền công dựa trên công việc hoàn thành như một bài báo được viết xong và sự thành công của bài báo đó.
Cung cấp thông tin hỗ trợ báo chí
Bước tiếp theo là cung cấp những bài báo hỗ trợ. Có hai dạng chính: thứ nhất là bài dịch dựa trên những sự kiện lịch sử, như một câu chuyện về sự thành công hay một câu chuyện của một khách nào đó nói về sản phẩm của họ đã giúp khách hàng gỡ rối trục trặc. Hay là bài báo về nhận xét của các nhà lãnh đạo với chữ ký hay dấu mộc của nhà điều hành công ty hay là tên của một nhân viên kỹ thuật.
Hầu hết các bài báo kỹ thuật được được xuất bản theo cả hai dạng trên, nhưng mỗi dạng có cách biên tập khác nhau. Ví dụ, một số nhà xuất bản tập trung vào cách đưa những câu chuyện lịch sử hoặc nhận xét của chuyên gia lên trang bìa để gây ấn tượng người xem. Nhà xuất bản khác lại chú trọng đến nhận xét của các chuyên gia, nhà xuất bản khác nữa lại chọn các bài báo tường thuật sự kiện.
Để đạt được vị trí nhanh nhất và tốt nhất, điều quan trọng là bài báo của bạn phải được biên tập dựa trên mục đích cụ thể nào đó. Ví dụ, một số nhà xuất bản hàng đầu về công nghệ dược sử dụng nhiều bài báo về nhận xét của các chuyên gia, nhưng không chú trọng đến những bài tình huống. Tuy nhiên, qui trình điều chế thuốc - một lĩnh vực của dược phẩm, lại chấp nhận cách viết tình huống đã qua trải nghiệm. Biết được sự khác biệt đó sẽ có lợi cho bạn rất nhiều trong việc lựa chọn chủ đề cho bài báo.
Những cơ hội để quảng bá sản phẩm
Thông tin quảng bá sản phẩm là cơ hội để công chúng biết đến sản phẩm của bạn, và nó ít yêu cầu tính chuyên môn trong kỹ năng viết bài. Những nhân viên PR nội bộ, cho dù có thể họ không chuyên môn về PR, sẽ thường phụ trách viết thông cáo báo chí. Các công ty tư vấn PR, người viết tự do, hay bộ phận quản lý dự án cũng có thể viết bài cho báo để quảng bá cho mục đích của mình.
Hầu hết việc xuất bản bằng giấy hay trực tuyến là do những nhân viên làm việc ngắn hạn chịu trách nhiệm và ưu tiên hàng đầu là đặc điểm của các bài báo, vì vậy có rất ít thời gian còn lại cho biên tập. Vì vậy, ưu tiên đầu tiên được đưa ra là những thông báo được viết bằng một cách nào đó mà phù hợp với quyền xuất bản, giảm thiểu hoặc không cần chỉnh sửa. Một cách hiệu quả để tăng tỷ lệ xuất bản là kín đáo, không phô trương, bám riết những nhà biên tập chính yếu nào, để đảm bảo rằng họ nhận phát hành. Ngược lại, hãy gây cho họ chú ý và đảm bảo rằng họ có đủ tất cả các thông tin mà họ cần v..v.. PR tạo ra sự tín nhiệm và gây ra tiếng vang tốt nhất để gặt hái thành công. Với những lí do đó, một khối lượng lớn đối thủ cạnh tranh muốn có được một vị trí trong phương tiện truyền thông đại chúng để nắm lấy những người mua chính.
Để sự đầu tư PR của bạn gặt hái lợi ích tối đa, phải chắc chắn rằng sự nỗ lực của bạn phù hợp với họat động thực tiễn của phương tiện truyền thông đại chúng. Đó là điều bạn phải cố gắng giành được.
Theo Bwportal
PR (Quan hệ cộng đồng) tuy tốn kém nhưng sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc thuê nhân viên tiếp thị mang thông tin sản phẩm tới tận từng khách hàng. Vì vậy, thay vì gửi e-mail trực tiếp tới 100,000 khách hàng tương lai, các chuyên gia tiếp thị có thể làm truyền thông dưới dạng các bài viết trên báo bởi chi phí thấp mà vẫn truyền tải thông tin đến cùng một số lượng khách hàng.
Nhiều công ty có sản phẩm bị giới hạn về vị trí trưng bày và khoảng rộng trong cửa hàng. Điều đó rất quan trọng vì nó mang lại lợi thế cạnh tranh, nếu như sản phẩm của đối thủ được đặt ở nơi khác thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm của bạn.
Hãy hiểu rằng yêu cầu của thị trường là rất quan trọng trong việc bán hàng hóa hay dịch vụ. Môt điều vô cùng quan trọng là lựa chọn một phương tiện truyền thông thích hợp, nó góp phần tạo nên thành công.
Nhà cung cấp tài liệu đáng tin cậy
Các phương tiện thông tin đại chúng bản thân nó đã có sự khác biệt, và đó là sự khác biệt về khối lượng và các vấn đề liên quan đến công việc biên tập. Các loại báo, báo thương mại quốc gia, và nhiều lọai báo thương mại khác có các đối tượng người đọc khác nhau, vì vậy cách biên tập cũng sẽ khác biệt lớn.
Ví dụ như các nhà biên tập về công nghệ thông tin trong tuần sẽ phụ trách tòan bộ các vấn đề về công nghệ thông tin kỹ thuật, gần giống như tạo ra một cuốn tạp chí. Yếu tố quan trọng để thành công là giữ được mối quan hệ thân thiết với nhà biên tập và lựa chọn chủ đề thật hấp dẫn để viết. Cách tốt nhất để xuất bản và giữ mối quan hệ lâu dài với nhà biên tập là thuê nhân viên quan hệ công chúng tòan thời gian hoặc ký hợp đồng với nhà đại diện.
Đa số các báo thương mại chú trọng những lĩnh vực nhỏ hẹp, họ không phát hành rộng rãi hoặc quảng cáo để lấy tiền trang trải cho nhân viên biên tập. Các báo này phụ thuộc vào các công ty bên ngòai vì các công ty này cung cấp tài liệu để họ biên tập.
Mặc dầu việc xuất bản tài liệu tùy thuộc vào những cơ quan muốn xuất bản nhưng việc lựa chọn loại tài liệu nào để xuất bản thì rất quan trọng. Vì vậy, sự thành công được quyết định bởi khả năng sử dụng kỹ thuật viết báo. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là xuất bản chủ đề nào có thể gây hứng thú cho ngừơi đọc.
Mối quan hệ với phòng PR nội bộ
Việc xuất bản báo thương mại và phương tiện thông tin trực tuyến đòi hỏi sự nỗ lực trong PR. Các công ty tư vấn về PR không có đủ kỹ năng để làm được điều đó vì họ thường thiếu kỹ năng viết lách.
Một bất lợi khác là các văn phòng đại diện PR truyền thống giữ lại những nhân viên cũ căn cứ trên thời gian cam kết của họ. Những người này không có tính uyển chuyển trong công việc như một nhân viên tiếp thị, vì vậy PR không được đảm bảo.
Các công ty PR đang từng bước lắp đầy khoảng trống này. Loại thứ nhất là làm việc tự do, họ có kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực nào đó. Những nhà biên tập lâu năm có thể cung cấp kiến thức trong việc tạo ra một bài báo thuộc một lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, những người làm việc tự do này là những nhà điều hành độc lập, họ chỉ biết viết bài chứ không có mối quan hệ với các nhà biên tập báo, họ chỉ thu thập nguồn thông tin, hình ảnh v.v.
Đối với lĩnh vực kỹ thuật, họ đưa ra phương hướng cho dự án bằng cách cung cấp những bài báo viết về lĩnh vưc đó để hỗ trợ. Song song đó, có các nhân viên phụ giúp công việc in ấn. Những công ty tư vấn PR được trả tiền công dựa trên công việc hoàn thành như một bài báo được viết xong và sự thành công của bài báo đó.
Cung cấp thông tin hỗ trợ báo chí
Bước tiếp theo là cung cấp những bài báo hỗ trợ. Có hai dạng chính: thứ nhất là bài dịch dựa trên những sự kiện lịch sử, như một câu chuyện về sự thành công hay một câu chuyện của một khách nào đó nói về sản phẩm của họ đã giúp khách hàng gỡ rối trục trặc. Hay là bài báo về nhận xét của các nhà lãnh đạo với chữ ký hay dấu mộc của nhà điều hành công ty hay là tên của một nhân viên kỹ thuật.
Hầu hết các bài báo kỹ thuật được được xuất bản theo cả hai dạng trên, nhưng mỗi dạng có cách biên tập khác nhau. Ví dụ, một số nhà xuất bản tập trung vào cách đưa những câu chuyện lịch sử hoặc nhận xét của chuyên gia lên trang bìa để gây ấn tượng người xem. Nhà xuất bản khác lại chú trọng đến nhận xét của các chuyên gia, nhà xuất bản khác nữa lại chọn các bài báo tường thuật sự kiện.
Để đạt được vị trí nhanh nhất và tốt nhất, điều quan trọng là bài báo của bạn phải được biên tập dựa trên mục đích cụ thể nào đó. Ví dụ, một số nhà xuất bản hàng đầu về công nghệ dược sử dụng nhiều bài báo về nhận xét của các chuyên gia, nhưng không chú trọng đến những bài tình huống. Tuy nhiên, qui trình điều chế thuốc - một lĩnh vực của dược phẩm, lại chấp nhận cách viết tình huống đã qua trải nghiệm. Biết được sự khác biệt đó sẽ có lợi cho bạn rất nhiều trong việc lựa chọn chủ đề cho bài báo.
Những cơ hội để quảng bá sản phẩm
Thông tin quảng bá sản phẩm là cơ hội để công chúng biết đến sản phẩm của bạn, và nó ít yêu cầu tính chuyên môn trong kỹ năng viết bài. Những nhân viên PR nội bộ, cho dù có thể họ không chuyên môn về PR, sẽ thường phụ trách viết thông cáo báo chí. Các công ty tư vấn PR, người viết tự do, hay bộ phận quản lý dự án cũng có thể viết bài cho báo để quảng bá cho mục đích của mình.
Hầu hết việc xuất bản bằng giấy hay trực tuyến là do những nhân viên làm việc ngắn hạn chịu trách nhiệm và ưu tiên hàng đầu là đặc điểm của các bài báo, vì vậy có rất ít thời gian còn lại cho biên tập. Vì vậy, ưu tiên đầu tiên được đưa ra là những thông báo được viết bằng một cách nào đó mà phù hợp với quyền xuất bản, giảm thiểu hoặc không cần chỉnh sửa. Một cách hiệu quả để tăng tỷ lệ xuất bản là kín đáo, không phô trương, bám riết những nhà biên tập chính yếu nào, để đảm bảo rằng họ nhận phát hành. Ngược lại, hãy gây cho họ chú ý và đảm bảo rằng họ có đủ tất cả các thông tin mà họ cần v..v.. PR tạo ra sự tín nhiệm và gây ra tiếng vang tốt nhất để gặt hái thành công. Với những lí do đó, một khối lượng lớn đối thủ cạnh tranh muốn có được một vị trí trong phương tiện truyền thông đại chúng để nắm lấy những người mua chính.
Để sự đầu tư PR của bạn gặt hái lợi ích tối đa, phải chắc chắn rằng sự nỗ lực của bạn phù hợp với họat động thực tiễn của phương tiện truyền thông đại chúng. Đó là điều bạn phải cố gắng giành được.
Theo Bwportal
28/11/08
Mỹ từ đen: Khám phá ma lực của ngôn từ (Phần Hai)
Kaestern Bredemeier; Thái Hồng Sơn dịch
Giống như một thứ ma thuật đen hay PR đen, mỹ từ đen là sự vận dụng tất cả các phương tiện và biện pháp mỹ từ trong đàm phán hoặc phát biểu để xoay chuyển câu chuyện theo ý mình và đưa người phản biện hoặc người nghe đến với kết luận bạn mong muốn, phân biệt trong bối cảnh nào và với vấn đề nào thì các lập luận của bạn trở nên vô nghĩa hoặc có ý nghĩa quyết định; gỡ bỏ mâu thuẫn và đem lại “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mỗi câu chuyện; biến suy nghĩ và hành vi tiêu cực của người đối thoại thành tích cực và mang tính xây dựng; giúp bạn gỡ rối các tình huống khó xử một cách linh hoạt và lịch lãm; giúp bạn giữ được bình tĩnh và tự tin trong những cuộc tranh cãi nảy lửa.
Mỹ từ học
Mỹ từ học (rhetoric) là khoa học về sự ứng dụng hiệu quả các thành tố ngôn ngữ (gồm từ và câu) trong giao tiếp công cộng, chứ không phải trong các đoạn độc thoại nội tâm. Nó cũng mô tả các phương cách kỹ năng cho phép đạt được quyết định tập thể có lợi cho mình, hoặc đơn giản là hạ gục đối thủ. Thuật ngữ “kỹ năng” hàm ý nói về nghệ thuật và khoa học giao tiếp, cũng như về các Kỹ năng thực tiễn – về sự hiểu biết, tài nghệ nhất định, về các khả năng của người sử dụng nó, về “các phương thức, mánh lới khôn ngoan hay các thâm ý”, bởi chính những ý nghĩa bình đẳng đó của từ “kỹ năng” được nêu trong Từ điển từ nguyên.
Phép biện chứng
Phép biện chứng, dịch sát nghĩa là “sự tương phản bên trong”, chỉ khả năng dẫn dắt cuộc đối thoại và thuyết phục người cùng tranh luận về cái đúng của mình. Đó là nghệ thuật thuyết phục và đi cùng với nó là sự sẵn sàng giải quyết các vấn đề qua giao tiếp, khi mà sự đồng thuận đạt được trong quá trình cùng nhận thức. Quan trọng ở đây là trình bày tư duy chính xác, biến đổi đúng thành các từ, và thuyết phục người nghe hoặc những người cùng đối thoại cụ thể bằng ngôn ngữ có hướng tới địa chỉ cụ thể, mong đạt được từ góc độ quan hệ đối tác sự đồng ý và hiểu biết lẫn nhau.
Tài tranh luận
Tài tranh luận (eristic) được coi là trường đại học nghệ thuật, đó là kỹ năng và phương pháp dẫn dắt cuộc tranh cãi. Thường thì từ này còn hàm chứa không chỉ sự nắm vững các phương pháp đặc biệt, mà cả khả năng đưa ra luận chứng không thể phủ nhận, cho phép giành chiến thắng nguyên tắc trong tranh cãi.
Nghệ thuật lập luận tinh tế (Rabulistica)
Nghệ thuật lập luận tinh tế (Rabulistica) cho phép nêu ra đề tài đang tranh luận hoặc trình tự của các ý tưởng nào đó theo quan điểm cần thiết, không phải lúc nào cũng phù hợp với thực tế.
Mỹ từ đen
Mỹ từ đen là sự vận dụng tất cả các thủ pháp rabulistica, tài tranh luận, biện chứng và mỹ từ để hướng cuộc nói chuyện theo sự mong đợi và dẫn dắt đối thủ hoặc công chúng tới cái kết mà họ mong đợi. Ma lực của các phương tiện ngôn ngữ nằm chính trong khả năng lập luận và tranh luận, nhấn mạnh, tuyên truyền và dẫn dắt cuộc tranh cãi theo cách mà người nói luôn giành thế thượng phong, theo như cách diễn giải của nhà triết học người Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) là “per fas et nefas” – vận dụng tất cả sự thật và phi sự thật. Mỹ từ đen là phương tiện phù phép và mị dân khiến đối thủ tin vào bất kỳ quan điểm nào. Đó là “sự sơ ý có dụng ý”, kiểu như khái niệm “Wu Wei” trong đạo Lão của Trung Quốc (chỉ bất hành động- ND). Nó cho phép giải quyết các mâu thuẫn, tạo cơ sở cho sự hiểu biết lẫn nhau, tranh luận có mục đích rõ rệt với bất kỳ người đối thoại nào - thậm chí với cả đối thủ khó tìm tiếng nói chung nhất. Nó chuyển tải ý nghĩ của chúng ta thành từ ngữ một cách dễ dàng và lịch lãm, không khác gì các thiên sứ thời hiện đại với sức thuyết phục và tài khiến người ta thay đổi quan điểm - những thứ làm nên sự hùng mạnh của ngôn ngữ chúng ta, hay những con bồ câu hòa bình xơ xác bị vặt sạch lông trong thời đại của sự nhân nhượng ngôn từ. Với sự đơn giản đó, dù là nói về những đề tài không hề quan trọng, mỹ từ đen cũng kiên nhẫn khỏa lấp tất cả mọi điều mâu thuẫn ngược đời nhất hàm chứa trong các phát biểu có vẻ đã được lập luận rất kín kẽ của chúng ta, hay xóa nhòa những sự vụng về do phát âm không rõ, cường điệu hài hước, giễu cợt đôi chút trước xu hướng thích mô tả bản thân, vốn dao động giữa sự õng ẹo và đạo đức giả đầy khiêu khích; khéo léo ngăn chặn bất kỳ mưu toan hành động nào và nhiều khi chính là thanh gươm sắc bén của những ai không có vũ khí nào khác, hay muốn che giấu tình thế của sự việc đang có xu hướng bất lợi cho bản thân.
Mỹ từ đen là một thứ ma túy mà chúng ta sử dụng để tự kích thích và bồi thêm vào những vết thương chưa lên da non, mãi còn trong kỷ niệm và ký ức của người đối thoại. Mỹ từ đen là điểm yếu được che phủ bằng ngôn từ của người chiến thắng, có sức thuyết phục nhờ sử dụng nhất quán tất cả các phương tiện có thể trong lĩnh vực ngôn ngữ: ngôn từ, phi ngôn từ và tựa ngôn từ, nghĩa là các dấu hiệu lời nói, ngôn ngữ cơ thể và các dấu hiệu kèm theo lời nói. Dĩ nhiên, chúng ta cũng giống Karlheinz Anton (Mit List und Tücke argumentieren) có thể nhầm khi chỉ xếp mỹ từ đen giống mỹ từ ác độc vào lĩnh vực tranh luận mà quên mất các phương thức, biện pháp và công cụ kỹ năng khác - những thứ bổ sung cho nhau và đem đến thiên hình vạn trạng những khả năng ứng dụng - và chúng ta có thể vội coi chúng như những phương thức kỹ năng có ích hay vô bổ, mà thực ra về nguyên tắc là trung tính và tiềm năng của chúng chỉ được thể hiện khi sử dụng. Trong trường hợp này, những gì được đưa lên hàng đầu chủ yếu sẽ là các cấu trúc biện chứng, nghĩa là luận chứng và tranh luận hướng tới đối thoại, còn các phương thức và công cụ kỹ năng dành cho độc thoại biến mất khỏi tầm nhìn lúc nào không hay, hoặc ít nhất cũng ở lại mà không được chú ý đến.
Những ai ngày hôm nay tới dự hội thảo về các vấn đề giao tiếp đều đặc biệt hy vọng vào cuộc nói chuyện thẳng thắn, đáng tin cậy và dựa trên câu chuyện xác thực mà các điều kiện bắt buộc của nó chính là sự dung nạp nhau của các đối tác cũng như mong muốn vươn tới “sự khách quan chủ quan”.
Tuy nhiên, cuộc sống thường nhật, đặc biệt là sinh hoạt nghề nghiệp lại cho chúng ta thấy điều hoàn toàn ngược lại: ở đây, những người tham gia cuộc nói chuyện luôn đi tới những kết luận mà ban đầu không thể chấp nhận được đối với người khác, rồi dẫn dắt người đối thoại tới việc chấp nhận một chuỗi luận chứng và ý tưởng xa lạ với họ hoặc khiến họ bất bình.
Đó là công việc của mỹ từ lợi ích (khái niệm này rõ ràng mang trong mình dấu ấn của Đế chế thứ ba với những thí nghiệm về sự vận động và những sự đồi bại khủng khiếp). Nó điều chế một chủ đề cụ thể hay đối tượng của cuộc nói chuyện, sao cho chúng ta bỗng dưng buộc phải nói điều mình không hề mong đợi, rồi rốt cục là ta sẽ từ chối bỏ chính những quan điểm của mình, hoặc chấp nhận thất bại về luận chứng – ngôn từ, cho dù các sự kiện ban đầu có vẻ hoàn toàn có sức thuyết phục. Sự chủ động trong câu chuyện vuột khỏi tay chúng ta, sự ngụy biện giành chiến thắng, còn những mắt xích luận chứng khách quan thì rối như mớ bòng bong không thể gỡ nổi.
Tuy vậy, vẫn phải tính tới một chi tiết rất quan trọng: tất cả các phương thức, biện pháp, công cụ kỹ năng giao tiếp tự thân chúng đều mang tính trung lập. Chúng chỉ trở nên chính trực hay không khi biến thành mỹ từ đen hay trắng trong quá trình sử dụng.
Mỹ từ đen – nguồn gốc và khả năng
Một số người thích nổi nóng: người nào do quan niệm chiến thuật mà phá vỡ các qui tắc dẫn dắt cuộc nói chuyện và sử dụng mỹ từ đen thì người đó sẽ thắng.
Một chuyên gia chuyên gia tư vấn về nhân sự nổi tiếng của Đức có thói quen mỗi khi gặp khó khăn trong đàm phán liên quan tới việc thanh toán phí dịch vụ của mình thường bất thình lình chồm dậy khỏi chỗ, chạy tới bên cửa sổ và yên lặng đứng đó tới khi khách hàng không chịu nổi sự căng thẳng thần kinh, phải lên tiếng thuyết phục ông ta trở lại bàn đàm phán – thường là với điều kiện đồng ý tăng mức thù lao. Dĩ nhiên, trò này không phải lúc nào cũng được diễn ra mà chỉ được áp dụng khi “khổ chủ” lâm vào thế bí, ví dụ lúc câu chuyện bị ngưng lại một cách vô vọng ở một điểm rất quan trọng nào đó.
Trong ngành công nghiệp ô tô, điện thoại di động, dịch vụ tài chính hay đào tạo kinh doanh, các nhà quản lý Mỹ, Nhật và châu Âu ngày càng tung ra nhiều chiêu mạnh hơn để đảm bảo thành công trong đàm phán và nhanh chóng đạt kết quả. Họ phá vỡ qui tắc dẫn dắt cuộc nói chuyện, và ứng dụng tất cả các mánh lới khôn ngoan nhất của mỹ từ đen hòng đạt được kết quả mong đợi, bất chấp điều đó có gây thiệt hại cho đối tác đàm phán không. Trong cuốn tiểu thuyết “Tìm Forrester” (Finding Forrester) của James Ellison, tác giả đoạt giải Pulitzer này đã hỏi cậu học sinh Jamal của mình: “Giả sử cậu là người phá vỡ nội qui thì cậu sẽ mất gì trong trường hợp này?” “Cái mất chính là em sẽ làm điều đó quá thường xuyên” - cậu học trò trả lời. Hoàn toàn đúng, câu trả lời kiểu đó sẽ đánh lạc hướng không chỉ đối tác đang cùng trò chuyện, mà cả chính tác giả đã đối đáp như vậy, khi tập trung sự chú ý của anh ta không phải vào bản chất cuộc nói chuyện, mà là vào các qui tắc anh ta phải phá vỡ. Tuy nhiên, quá trình đàm phán truyền thống được chế định thường đặt trên những chiếc chân bằng gốm của sự lịch thiệp giả tạo, hay nền tảng dao động của các qui tắc đáng ngờ, mà các chuyên gia tư vấn về vấn đề giao tiếp thường nhồi nhét các học trò của mình hàng chục năm nay. Mỹ từ ngày càng thể hiện xu thế màu đen của mình. Ví dụ, dưới vỏ bọc của thông tin kinh doanh sơ bộ dựa trên sự việc, người ta kêu gọi tình cảm, có nơi thiên hạ lại dùng các phương tiện ngôn ngữ khéo léo tung hoả mù che giấu những vấn đề với việc hình thành tư duy, hay có những nơi mà lời nói gắn với việc làm để đánh lừa lý trí, giống như thời Đế chế thứ baBa, và từ đó tới nay còn lặp lại nhiều lần. Adolf Hitler từng tuyên bố về các tội ác khủng khiếp của mình chống lại nhân loại trong cuốn “Mein Kampf” (Cuộc tranh đấu của ta), trong đó ông ta từng đề cập đến vai trò của diễn giả và ý nghĩa của lời nói một cách thô thiển: “Tuy nhiên, nhân tố từng kích hoạt các dòng thác lịch sử lớn, dù là mang màu sắc tôn giáo hay chính trị, xưa nay đều gắn với ma lực của lời nói khẩu ngữ. Trước hết, quần chúng chỉ bị chinh phục bởi sức mạnh to lớn của ngôn từ sống động. Và mọi phong trào vĩ đại đều là phong trào của nhân dân, sự phun trào núi lửa ham muốn của nhân loại và cảm xúc của tâm hồn. Chúng được hà hơi bởi nữ thần u ám của sự đói khát hay sức mạnh thiêu đốt của ngôn từ, và chúng chẳng có gì chung với sự ủy mị của các văn sĩ theo chủ nghĩa duy mĩ và các người hùng phòng khách”. Tuy nhiên, nếu ai đó vội vàng muốn lên án bản chất phi đạo đức của mỹ từ đen thì trước hết hãy xem cách mà nhà báo chính luận Wolf Schneider viết gì trong cuốn Wörter machen Leute: “Kỹ năng quyến rũ – hiện đang được sử dụng rất phổ biến trong tuyên truyền và quảng cáo – ban đầu được gọi là mỹ từ, được phát minh bởi người Hi Lạp. Nó từng có được tiếng vang mạnh mẽ tại các hội nghị ở Athen và Roma, rồi sau đó - tại Hạ viện Anh, Quốc hội Pháp và Cung thể thao Berlin. Và nghệ thuật nói cũng chính là nghệ thuật thuyết phục. Điều đó không chỉ không thể bác bỏ mà còn được tôn lên như chân lý của mọi thời đại - từ các triết gia cổ đại như Aristotel và Cicero tới các nhà khai sáng như Gottsched (1700-1766, Nhà văn Đức – ND), Gellért (?-1046, Giáo chủ người Hungari- ND) và Walter (1771-1832, nhà văn Scotland-ND),- điều duy nhất đòi hỏi ở diễn giả chính là phục vụ chính nghĩa...” Do đó, sau lời cầu nguyện và và mệnh lệnh, mỹ từ chiếm lĩnh vực lớn thứ ba của ngôn ngữ - nó không mang tính thông báo, mà đúng hơn là tạo nên một vực thẳm khiến người ta khiếp sợ. Hầu như tất cả các phương pháp lời nói được Hitler và Gebbels sử dụng đều từng rất phổ biến với các nhà hùng biện thời cổ đại”. Một số các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chiến thuật đàm phán thường phá vỡ các qui tắc thông thường – và họ rất thành công. Dù cố ý hay vô ý, họ đều đang sử dụng mỹ từ đen.
Từ đó, có thể rút ra kết luận rằng, các qui tắc này cần được phá vỡ một cách có chủ đích: không nên làm gián đoạn cuộc nói chuyện mà nên làm cho câu chuyện trở nên đầy xúc cảm, khiến đối tác mất thăng bằng, nhờ đó bạn sẽ giành ưu thế về chiến lược. Tất cả những cái đó đều diễn ra trên bình diện giao tiếp, không hề thay đổi nội dung. Xác định mục tiêu không phải là chiến lược thô sơ, chỉ hợp với du kích trong rừng rậm, mà là một trò chơi trên bàn phím của các khả năng ngôn từ, phi ngôn từ và tựa ngôn từ, bao gồm chiến lược và chiến thuật chơi cờ với sự điêu luyện của Horowitz.
Trong cuốn Wie man sich Feinde schafft, Rupert Lay viết về vấn đề này như sau: “Không ít người chiến thắng đã thể hiện ưu thế của mình trong cuộc nói chuyện. Đôi khi họ học được cách nói chuyện kiểu thượng lưu. Tuy nhiên, không hiếm khi các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để ngụy trang ưu thế của người chiến thắng, cái có thể ẩn sau sự thể hiện thiện cảm, ác cảm, ngạc nhiên, khen ngợi, yêu cầu về lời khuyên hay giúp đỡ”. Những người phá lệ thường diễn trò của mình – vô tình hay cố ý, ngang nhiên hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp. Mỹ từ đen tồn tại dưới vỏ bọc của sự giao tiếp có vẻ mang tính kinh doanh hướng tới sự việc, có vẻ như dựa trên các nguyên tắc đối tác và bình đẳng, khiến người ta có cảm giác là các đối thủ đang nói chuyện với nhau, vì nhau và lợi ích của nhau. Nó bao gồm các chiến thuật phù hợp với trò chơi để theo đuổi chỉ một mục đích: nhất quán chống lại bất kỳ cố gắng kháng cự nào – có thực hay chỉ là có thể có.
Cái luôn có thể chê trách ở mỹ từ đen chính là tiết mục bất tận của nó không thừa nhận bất kể ranh giới nào, nguồn dự trữ các ý tưởng sắc bén của nó - ứng dụng cũng như phương pháp – hầu như là vô tận, còn các mô hình, biện pháp và công cụ lời nói cùng các thủ pháp kỹ năng của nó phản ánh toàn bộ màu sắc của loại hình giao tiếp phổ thông.
Nếu con đường khai phá đã lựa chọn không dẫn tới mục tiêu cần thiết mong đợi, mỹ từ đen sẽ đạp thẳng lên sình lầy, xuyên qua sự hỗn độn của tranh luận tập thể, phá vỡ những cây cầu cũ kỹ có từ lâu trên bản đồ và bền bỉ sáng tạo bắc cho mình những cây cầu mới, khéo léo và cẩn thận sử dụng các đối tác khác để xây nên những lối đi mới, lấp bằng mọi hố voi ổ gà. Đồng thời, nó cũng không bao giờ quên mục tiêu đã đề ra, và phá bỏ thành công các qui tắc. Mỹ từ đen tạo ra sự thay đổi cảm xúc mới, sự lộn xộn của cảm xúc, thể hiện sự nhu mỳ ở chỗ ta mong chờ sự chống đối ngoan cố, và phản kháng kịch liệt khi ta chẳng may dám cả gan tin vào sự thỏa hiệp. Mỹ từ đen thay đổi qui luật của cuộc chơi, tạo các liên kết mới thay cái cũ, cho thấy những điều tuyệt diệu của linh cảm – và tất cả những điều đó diễn ra nhanh chóng mặt tới nỗi đối phương lú lẫn mất khôn. Erick Bern (Spiele der Erwachsenen, trang 57) mô tả một trong các dải tần tác động lên người đối thoại nhờ sự phá lệ, không đả động gì tới chính khái niệm này khi mô tả “trò chơi”: “Điều đó có thể mô tả như một sự nhất quán trở lại định kỳ của các giao dịch kinh doanh lặp đi lặp lại, vốn mất ẩn ý bề ngoài , nhưng thật ra vẫn tuân theo các động cơ thầm kín nào đó; tóm lại là, điều đó có thể định nghĩa như sự nhất quán các hành động riêng lẻ, dẫn tới một cái bẫy hoặc được sử dụng để thực hiện một hành động khiêu khích. Các trò chơi (sự phá lệ) khác với các thủ tục, lễ nghi và các kiểu trình tự phát triển truyền thống theo thời gian, chủ yếu bởi hai điểm:
1) bởi chúng tuân theo các động cơ thầm kín, và
2) bởi hệ số tác động có ích. Các thủ tục có thể hiệu quả, lễ nghi có thể phát huy tác dụng, và các loại hình qui trình khác có thể hữu ích, song về mặt bản chất, tất cả đều là các hiện tượng công khai và trung thực, có thể nói là mang tính cạnh tranh...”
Tại buổi gặp sau đó, dù sao cũng hãy phân tích các tình huống, trong đó những người tham gia nói chuyện phải bước vào một con đường nguy hiểm của sự thật với trách nhiệm có hạn và chịu sự thất bại, mặc dù có trong tay những luận chứng đầy sức thuyết phục.
Vì thế những bậc thầy về mỹ từ không chỉ có xu hướng, mà còn tin chắc rằng nếu muốn lôi con Át chủ bài ra khỏi tay áo trong cuộc chơi, không nên trông chờ vào phép lạ của các ảo thuật gia kiểu Siegfried & Roy hay David Copperfield, mà hãy thủ trước nó trong tay áo. Những kẻ phá lệ chuyên sử dụng mỹ từ đen, làm trò rất khéo với các lá bài của mình, tự bày ra cuộc chơi và sử dụng bất kỳ công cụ, biện pháp và phương pháp kỹ năng nào – và mọi, mọi cơ hội.
• Mỹ từ đen được bao hàm trong việc sử dụng qua lời nói có lợi cho mình tất cả sự thô bỉ biện chứng và mỹ từ; nhờ nó mà các tình huống được đẳng cấp hóa, loại trừ mọi đẳng cấp; được xác định, và sau đó các ranh giới lý do – luận chứng bị phá vỡ, các vấn đề được tạo gia một cách gượng ép, còn các mắt xích logic bị phá vỡ rồi lại phục hồi lại với tốc độ chóng mặt.
• Mỹ từ đen là sự thỉnh cầu không ngừng để đưa ra một giải pháp mang tính xây dựng và sự phủ nhận rất khó chịu bất kỳ các đề xuất tương tự bằng tất cả các phương tiện của sự phá hủy tinh tế.
• Mỹ từ đen còn là nghệ thuật mầu nhiệm của sự điều khiển ngôn từ với việc sử dụng tất cả cái thiên hình vạn trạng các khả năng của ngôn ngữ và năng lực của người nói, đôi nghi nhằm mục đích phá vỡ mạch tư duy của người đối thoại.
Trong cuộc nói chuyện, mỹ từ đen châm ngòi cho cái bất ngờ, lo lắng, bất lực, cho sự im lặng tập thể tước bỏ động cơ và không mang tính xây dựng, mà tại đỉnh điểm của nó, hệt như được đặt hàng trước, sẽ xuất hiện hình ảnh hư ảo của “chàng kỵ sỹ trong bộ áo giáp trắng”, ngay lập tức giúp vượt qua được tình huống bế tắc. Tác giả của kịch bản này sẽ là người chiếm ưu thế vô giá.
Bí mật và tạo ra sự say mê, mỹ từ đen giống ma thuật đen, tàn nhẫn không thương tiếc, giống PR đen, công cụ hóa và cá nhân hóa các hành động giao tiếp của chúng ta. Bất chấp học thuyết về màu sắc, trong đó màu đen được mô tả như “lỗ thủng màu sắc”, mỹ từ đen là hỗn hợp nhiều màu sặc sỡ của các phương thức, biện pháp và công cụ kỹ năng khác nhau nhất, đồng thời cũng rất lôi cuốn và đầy mánh khóe, được vận dụng bởi người dùng. Làm gì có ai không thích dùng mưu khi muốn lôi cái đầu mình ra khỏi thòng lọng, chẳng hơn là xiết cho nó chặt thêm hay sao? Sự lựa chọn phương tiện trong mỹ từ có ý nghĩa quyết định; chiếc tủ thuốc độc của nó – không phải dành cho những người chi ly tỉ mỉ, và mỗi loại thuốc đều có mác đảm bảo chất lượng. Trong tác phẩm kinh điển “Wörter machen Leute”, bằng hình thức trinh thám hiện đại, Wolf Schneider đã kể về cách ứng dụng mỹ từ đen và khả năng biểu lộ ý nghĩ bằng lời nói, dỡ bỏ mọi vỏ bọc ngôn từ của nó. Nhưng, ông cũng tránh các khái niệm mánh khóe lời nói, tài tranh luận/nghệ thuật đấu khẩu khi đưa ra phép biện chứng đồng thời che giấu độc giả mỹ từ đen, còn mỹ từ trắng thì ngược lại, trưng ra hết cỡ. Điều đó rõ ràng là không đủ. Vậy là có thêm một lý do nữa để viết cuốn sách này.
MỸ TỪ ĐEN: KHÁM PHÁ MA THUẬT CỦA NGÔN TỪ
Tác giả: Kaestern Bredemeier
Thái Hồng Sơn dịch
NXB Tổng hợp TP.HCM
Số trang: 360, Giá bán: 58.000 VND
(Còn nữa)
Giống như một thứ ma thuật đen hay PR đen, mỹ từ đen là sự vận dụng tất cả các phương tiện và biện pháp mỹ từ trong đàm phán hoặc phát biểu để xoay chuyển câu chuyện theo ý mình và đưa người phản biện hoặc người nghe đến với kết luận bạn mong muốn, phân biệt trong bối cảnh nào và với vấn đề nào thì các lập luận của bạn trở nên vô nghĩa hoặc có ý nghĩa quyết định; gỡ bỏ mâu thuẫn và đem lại “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mỗi câu chuyện; biến suy nghĩ và hành vi tiêu cực của người đối thoại thành tích cực và mang tính xây dựng; giúp bạn gỡ rối các tình huống khó xử một cách linh hoạt và lịch lãm; giúp bạn giữ được bình tĩnh và tự tin trong những cuộc tranh cãi nảy lửa.
Mỹ từ học
Mỹ từ học (rhetoric) là khoa học về sự ứng dụng hiệu quả các thành tố ngôn ngữ (gồm từ và câu) trong giao tiếp công cộng, chứ không phải trong các đoạn độc thoại nội tâm. Nó cũng mô tả các phương cách kỹ năng cho phép đạt được quyết định tập thể có lợi cho mình, hoặc đơn giản là hạ gục đối thủ. Thuật ngữ “kỹ năng” hàm ý nói về nghệ thuật và khoa học giao tiếp, cũng như về các Kỹ năng thực tiễn – về sự hiểu biết, tài nghệ nhất định, về các khả năng của người sử dụng nó, về “các phương thức, mánh lới khôn ngoan hay các thâm ý”, bởi chính những ý nghĩa bình đẳng đó của từ “kỹ năng” được nêu trong Từ điển từ nguyên.
Phép biện chứng
Phép biện chứng, dịch sát nghĩa là “sự tương phản bên trong”, chỉ khả năng dẫn dắt cuộc đối thoại và thuyết phục người cùng tranh luận về cái đúng của mình. Đó là nghệ thuật thuyết phục và đi cùng với nó là sự sẵn sàng giải quyết các vấn đề qua giao tiếp, khi mà sự đồng thuận đạt được trong quá trình cùng nhận thức. Quan trọng ở đây là trình bày tư duy chính xác, biến đổi đúng thành các từ, và thuyết phục người nghe hoặc những người cùng đối thoại cụ thể bằng ngôn ngữ có hướng tới địa chỉ cụ thể, mong đạt được từ góc độ quan hệ đối tác sự đồng ý và hiểu biết lẫn nhau.
Tài tranh luận
Tài tranh luận (eristic) được coi là trường đại học nghệ thuật, đó là kỹ năng và phương pháp dẫn dắt cuộc tranh cãi. Thường thì từ này còn hàm chứa không chỉ sự nắm vững các phương pháp đặc biệt, mà cả khả năng đưa ra luận chứng không thể phủ nhận, cho phép giành chiến thắng nguyên tắc trong tranh cãi.
Nghệ thuật lập luận tinh tế (Rabulistica)
Nghệ thuật lập luận tinh tế (Rabulistica) cho phép nêu ra đề tài đang tranh luận hoặc trình tự của các ý tưởng nào đó theo quan điểm cần thiết, không phải lúc nào cũng phù hợp với thực tế.
Mỹ từ đen
Mỹ từ đen là sự vận dụng tất cả các thủ pháp rabulistica, tài tranh luận, biện chứng và mỹ từ để hướng cuộc nói chuyện theo sự mong đợi và dẫn dắt đối thủ hoặc công chúng tới cái kết mà họ mong đợi. Ma lực của các phương tiện ngôn ngữ nằm chính trong khả năng lập luận và tranh luận, nhấn mạnh, tuyên truyền và dẫn dắt cuộc tranh cãi theo cách mà người nói luôn giành thế thượng phong, theo như cách diễn giải của nhà triết học người Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) là “per fas et nefas” – vận dụng tất cả sự thật và phi sự thật. Mỹ từ đen là phương tiện phù phép và mị dân khiến đối thủ tin vào bất kỳ quan điểm nào. Đó là “sự sơ ý có dụng ý”, kiểu như khái niệm “Wu Wei” trong đạo Lão của Trung Quốc (chỉ bất hành động- ND). Nó cho phép giải quyết các mâu thuẫn, tạo cơ sở cho sự hiểu biết lẫn nhau, tranh luận có mục đích rõ rệt với bất kỳ người đối thoại nào - thậm chí với cả đối thủ khó tìm tiếng nói chung nhất. Nó chuyển tải ý nghĩ của chúng ta thành từ ngữ một cách dễ dàng và lịch lãm, không khác gì các thiên sứ thời hiện đại với sức thuyết phục và tài khiến người ta thay đổi quan điểm - những thứ làm nên sự hùng mạnh của ngôn ngữ chúng ta, hay những con bồ câu hòa bình xơ xác bị vặt sạch lông trong thời đại của sự nhân nhượng ngôn từ. Với sự đơn giản đó, dù là nói về những đề tài không hề quan trọng, mỹ từ đen cũng kiên nhẫn khỏa lấp tất cả mọi điều mâu thuẫn ngược đời nhất hàm chứa trong các phát biểu có vẻ đã được lập luận rất kín kẽ của chúng ta, hay xóa nhòa những sự vụng về do phát âm không rõ, cường điệu hài hước, giễu cợt đôi chút trước xu hướng thích mô tả bản thân, vốn dao động giữa sự õng ẹo và đạo đức giả đầy khiêu khích; khéo léo ngăn chặn bất kỳ mưu toan hành động nào và nhiều khi chính là thanh gươm sắc bén của những ai không có vũ khí nào khác, hay muốn che giấu tình thế của sự việc đang có xu hướng bất lợi cho bản thân.
Mỹ từ đen là một thứ ma túy mà chúng ta sử dụng để tự kích thích và bồi thêm vào những vết thương chưa lên da non, mãi còn trong kỷ niệm và ký ức của người đối thoại. Mỹ từ đen là điểm yếu được che phủ bằng ngôn từ của người chiến thắng, có sức thuyết phục nhờ sử dụng nhất quán tất cả các phương tiện có thể trong lĩnh vực ngôn ngữ: ngôn từ, phi ngôn từ và tựa ngôn từ, nghĩa là các dấu hiệu lời nói, ngôn ngữ cơ thể và các dấu hiệu kèm theo lời nói. Dĩ nhiên, chúng ta cũng giống Karlheinz Anton (Mit List und Tücke argumentieren) có thể nhầm khi chỉ xếp mỹ từ đen giống mỹ từ ác độc vào lĩnh vực tranh luận mà quên mất các phương thức, biện pháp và công cụ kỹ năng khác - những thứ bổ sung cho nhau và đem đến thiên hình vạn trạng những khả năng ứng dụng - và chúng ta có thể vội coi chúng như những phương thức kỹ năng có ích hay vô bổ, mà thực ra về nguyên tắc là trung tính và tiềm năng của chúng chỉ được thể hiện khi sử dụng. Trong trường hợp này, những gì được đưa lên hàng đầu chủ yếu sẽ là các cấu trúc biện chứng, nghĩa là luận chứng và tranh luận hướng tới đối thoại, còn các phương thức và công cụ kỹ năng dành cho độc thoại biến mất khỏi tầm nhìn lúc nào không hay, hoặc ít nhất cũng ở lại mà không được chú ý đến.
Những ai ngày hôm nay tới dự hội thảo về các vấn đề giao tiếp đều đặc biệt hy vọng vào cuộc nói chuyện thẳng thắn, đáng tin cậy và dựa trên câu chuyện xác thực mà các điều kiện bắt buộc của nó chính là sự dung nạp nhau của các đối tác cũng như mong muốn vươn tới “sự khách quan chủ quan”.
Tuy nhiên, cuộc sống thường nhật, đặc biệt là sinh hoạt nghề nghiệp lại cho chúng ta thấy điều hoàn toàn ngược lại: ở đây, những người tham gia cuộc nói chuyện luôn đi tới những kết luận mà ban đầu không thể chấp nhận được đối với người khác, rồi dẫn dắt người đối thoại tới việc chấp nhận một chuỗi luận chứng và ý tưởng xa lạ với họ hoặc khiến họ bất bình.
Đó là công việc của mỹ từ lợi ích (khái niệm này rõ ràng mang trong mình dấu ấn của Đế chế thứ ba với những thí nghiệm về sự vận động và những sự đồi bại khủng khiếp). Nó điều chế một chủ đề cụ thể hay đối tượng của cuộc nói chuyện, sao cho chúng ta bỗng dưng buộc phải nói điều mình không hề mong đợi, rồi rốt cục là ta sẽ từ chối bỏ chính những quan điểm của mình, hoặc chấp nhận thất bại về luận chứng – ngôn từ, cho dù các sự kiện ban đầu có vẻ hoàn toàn có sức thuyết phục. Sự chủ động trong câu chuyện vuột khỏi tay chúng ta, sự ngụy biện giành chiến thắng, còn những mắt xích luận chứng khách quan thì rối như mớ bòng bong không thể gỡ nổi.
Tuy vậy, vẫn phải tính tới một chi tiết rất quan trọng: tất cả các phương thức, biện pháp, công cụ kỹ năng giao tiếp tự thân chúng đều mang tính trung lập. Chúng chỉ trở nên chính trực hay không khi biến thành mỹ từ đen hay trắng trong quá trình sử dụng.
Mỹ từ đen – nguồn gốc và khả năng
Một số người thích nổi nóng: người nào do quan niệm chiến thuật mà phá vỡ các qui tắc dẫn dắt cuộc nói chuyện và sử dụng mỹ từ đen thì người đó sẽ thắng.
Một chuyên gia chuyên gia tư vấn về nhân sự nổi tiếng của Đức có thói quen mỗi khi gặp khó khăn trong đàm phán liên quan tới việc thanh toán phí dịch vụ của mình thường bất thình lình chồm dậy khỏi chỗ, chạy tới bên cửa sổ và yên lặng đứng đó tới khi khách hàng không chịu nổi sự căng thẳng thần kinh, phải lên tiếng thuyết phục ông ta trở lại bàn đàm phán – thường là với điều kiện đồng ý tăng mức thù lao. Dĩ nhiên, trò này không phải lúc nào cũng được diễn ra mà chỉ được áp dụng khi “khổ chủ” lâm vào thế bí, ví dụ lúc câu chuyện bị ngưng lại một cách vô vọng ở một điểm rất quan trọng nào đó.
Trong ngành công nghiệp ô tô, điện thoại di động, dịch vụ tài chính hay đào tạo kinh doanh, các nhà quản lý Mỹ, Nhật và châu Âu ngày càng tung ra nhiều chiêu mạnh hơn để đảm bảo thành công trong đàm phán và nhanh chóng đạt kết quả. Họ phá vỡ qui tắc dẫn dắt cuộc nói chuyện, và ứng dụng tất cả các mánh lới khôn ngoan nhất của mỹ từ đen hòng đạt được kết quả mong đợi, bất chấp điều đó có gây thiệt hại cho đối tác đàm phán không. Trong cuốn tiểu thuyết “Tìm Forrester” (Finding Forrester) của James Ellison, tác giả đoạt giải Pulitzer này đã hỏi cậu học sinh Jamal của mình: “Giả sử cậu là người phá vỡ nội qui thì cậu sẽ mất gì trong trường hợp này?” “Cái mất chính là em sẽ làm điều đó quá thường xuyên” - cậu học trò trả lời. Hoàn toàn đúng, câu trả lời kiểu đó sẽ đánh lạc hướng không chỉ đối tác đang cùng trò chuyện, mà cả chính tác giả đã đối đáp như vậy, khi tập trung sự chú ý của anh ta không phải vào bản chất cuộc nói chuyện, mà là vào các qui tắc anh ta phải phá vỡ. Tuy nhiên, quá trình đàm phán truyền thống được chế định thường đặt trên những chiếc chân bằng gốm của sự lịch thiệp giả tạo, hay nền tảng dao động của các qui tắc đáng ngờ, mà các chuyên gia tư vấn về vấn đề giao tiếp thường nhồi nhét các học trò của mình hàng chục năm nay. Mỹ từ ngày càng thể hiện xu thế màu đen của mình. Ví dụ, dưới vỏ bọc của thông tin kinh doanh sơ bộ dựa trên sự việc, người ta kêu gọi tình cảm, có nơi thiên hạ lại dùng các phương tiện ngôn ngữ khéo léo tung hoả mù che giấu những vấn đề với việc hình thành tư duy, hay có những nơi mà lời nói gắn với việc làm để đánh lừa lý trí, giống như thời Đế chế thứ baBa, và từ đó tới nay còn lặp lại nhiều lần. Adolf Hitler từng tuyên bố về các tội ác khủng khiếp của mình chống lại nhân loại trong cuốn “Mein Kampf” (Cuộc tranh đấu của ta), trong đó ông ta từng đề cập đến vai trò của diễn giả và ý nghĩa của lời nói một cách thô thiển: “Tuy nhiên, nhân tố từng kích hoạt các dòng thác lịch sử lớn, dù là mang màu sắc tôn giáo hay chính trị, xưa nay đều gắn với ma lực của lời nói khẩu ngữ. Trước hết, quần chúng chỉ bị chinh phục bởi sức mạnh to lớn của ngôn từ sống động. Và mọi phong trào vĩ đại đều là phong trào của nhân dân, sự phun trào núi lửa ham muốn của nhân loại và cảm xúc của tâm hồn. Chúng được hà hơi bởi nữ thần u ám của sự đói khát hay sức mạnh thiêu đốt của ngôn từ, và chúng chẳng có gì chung với sự ủy mị của các văn sĩ theo chủ nghĩa duy mĩ và các người hùng phòng khách”. Tuy nhiên, nếu ai đó vội vàng muốn lên án bản chất phi đạo đức của mỹ từ đen thì trước hết hãy xem cách mà nhà báo chính luận Wolf Schneider viết gì trong cuốn Wörter machen Leute: “Kỹ năng quyến rũ – hiện đang được sử dụng rất phổ biến trong tuyên truyền và quảng cáo – ban đầu được gọi là mỹ từ, được phát minh bởi người Hi Lạp. Nó từng có được tiếng vang mạnh mẽ tại các hội nghị ở Athen và Roma, rồi sau đó - tại Hạ viện Anh, Quốc hội Pháp và Cung thể thao Berlin. Và nghệ thuật nói cũng chính là nghệ thuật thuyết phục. Điều đó không chỉ không thể bác bỏ mà còn được tôn lên như chân lý của mọi thời đại - từ các triết gia cổ đại như Aristotel và Cicero tới các nhà khai sáng như Gottsched (1700-1766, Nhà văn Đức – ND), Gellért (?-1046, Giáo chủ người Hungari- ND) và Walter (1771-1832, nhà văn Scotland-ND),- điều duy nhất đòi hỏi ở diễn giả chính là phục vụ chính nghĩa...” Do đó, sau lời cầu nguyện và và mệnh lệnh, mỹ từ chiếm lĩnh vực lớn thứ ba của ngôn ngữ - nó không mang tính thông báo, mà đúng hơn là tạo nên một vực thẳm khiến người ta khiếp sợ. Hầu như tất cả các phương pháp lời nói được Hitler và Gebbels sử dụng đều từng rất phổ biến với các nhà hùng biện thời cổ đại”. Một số các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chiến thuật đàm phán thường phá vỡ các qui tắc thông thường – và họ rất thành công. Dù cố ý hay vô ý, họ đều đang sử dụng mỹ từ đen.
Từ đó, có thể rút ra kết luận rằng, các qui tắc này cần được phá vỡ một cách có chủ đích: không nên làm gián đoạn cuộc nói chuyện mà nên làm cho câu chuyện trở nên đầy xúc cảm, khiến đối tác mất thăng bằng, nhờ đó bạn sẽ giành ưu thế về chiến lược. Tất cả những cái đó đều diễn ra trên bình diện giao tiếp, không hề thay đổi nội dung. Xác định mục tiêu không phải là chiến lược thô sơ, chỉ hợp với du kích trong rừng rậm, mà là một trò chơi trên bàn phím của các khả năng ngôn từ, phi ngôn từ và tựa ngôn từ, bao gồm chiến lược và chiến thuật chơi cờ với sự điêu luyện của Horowitz.
Trong cuốn Wie man sich Feinde schafft, Rupert Lay viết về vấn đề này như sau: “Không ít người chiến thắng đã thể hiện ưu thế của mình trong cuộc nói chuyện. Đôi khi họ học được cách nói chuyện kiểu thượng lưu. Tuy nhiên, không hiếm khi các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để ngụy trang ưu thế của người chiến thắng, cái có thể ẩn sau sự thể hiện thiện cảm, ác cảm, ngạc nhiên, khen ngợi, yêu cầu về lời khuyên hay giúp đỡ”. Những người phá lệ thường diễn trò của mình – vô tình hay cố ý, ngang nhiên hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp. Mỹ từ đen tồn tại dưới vỏ bọc của sự giao tiếp có vẻ mang tính kinh doanh hướng tới sự việc, có vẻ như dựa trên các nguyên tắc đối tác và bình đẳng, khiến người ta có cảm giác là các đối thủ đang nói chuyện với nhau, vì nhau và lợi ích của nhau. Nó bao gồm các chiến thuật phù hợp với trò chơi để theo đuổi chỉ một mục đích: nhất quán chống lại bất kỳ cố gắng kháng cự nào – có thực hay chỉ là có thể có.
Cái luôn có thể chê trách ở mỹ từ đen chính là tiết mục bất tận của nó không thừa nhận bất kể ranh giới nào, nguồn dự trữ các ý tưởng sắc bén của nó - ứng dụng cũng như phương pháp – hầu như là vô tận, còn các mô hình, biện pháp và công cụ lời nói cùng các thủ pháp kỹ năng của nó phản ánh toàn bộ màu sắc của loại hình giao tiếp phổ thông.
Nếu con đường khai phá đã lựa chọn không dẫn tới mục tiêu cần thiết mong đợi, mỹ từ đen sẽ đạp thẳng lên sình lầy, xuyên qua sự hỗn độn của tranh luận tập thể, phá vỡ những cây cầu cũ kỹ có từ lâu trên bản đồ và bền bỉ sáng tạo bắc cho mình những cây cầu mới, khéo léo và cẩn thận sử dụng các đối tác khác để xây nên những lối đi mới, lấp bằng mọi hố voi ổ gà. Đồng thời, nó cũng không bao giờ quên mục tiêu đã đề ra, và phá bỏ thành công các qui tắc. Mỹ từ đen tạo ra sự thay đổi cảm xúc mới, sự lộn xộn của cảm xúc, thể hiện sự nhu mỳ ở chỗ ta mong chờ sự chống đối ngoan cố, và phản kháng kịch liệt khi ta chẳng may dám cả gan tin vào sự thỏa hiệp. Mỹ từ đen thay đổi qui luật của cuộc chơi, tạo các liên kết mới thay cái cũ, cho thấy những điều tuyệt diệu của linh cảm – và tất cả những điều đó diễn ra nhanh chóng mặt tới nỗi đối phương lú lẫn mất khôn. Erick Bern (Spiele der Erwachsenen, trang 57) mô tả một trong các dải tần tác động lên người đối thoại nhờ sự phá lệ, không đả động gì tới chính khái niệm này khi mô tả “trò chơi”: “Điều đó có thể mô tả như một sự nhất quán trở lại định kỳ của các giao dịch kinh doanh lặp đi lặp lại, vốn mất ẩn ý bề ngoài , nhưng thật ra vẫn tuân theo các động cơ thầm kín nào đó; tóm lại là, điều đó có thể định nghĩa như sự nhất quán các hành động riêng lẻ, dẫn tới một cái bẫy hoặc được sử dụng để thực hiện một hành động khiêu khích. Các trò chơi (sự phá lệ) khác với các thủ tục, lễ nghi và các kiểu trình tự phát triển truyền thống theo thời gian, chủ yếu bởi hai điểm:
1) bởi chúng tuân theo các động cơ thầm kín, và
2) bởi hệ số tác động có ích. Các thủ tục có thể hiệu quả, lễ nghi có thể phát huy tác dụng, và các loại hình qui trình khác có thể hữu ích, song về mặt bản chất, tất cả đều là các hiện tượng công khai và trung thực, có thể nói là mang tính cạnh tranh...”
Tại buổi gặp sau đó, dù sao cũng hãy phân tích các tình huống, trong đó những người tham gia nói chuyện phải bước vào một con đường nguy hiểm của sự thật với trách nhiệm có hạn và chịu sự thất bại, mặc dù có trong tay những luận chứng đầy sức thuyết phục.
Vì thế những bậc thầy về mỹ từ không chỉ có xu hướng, mà còn tin chắc rằng nếu muốn lôi con Át chủ bài ra khỏi tay áo trong cuộc chơi, không nên trông chờ vào phép lạ của các ảo thuật gia kiểu Siegfried & Roy hay David Copperfield, mà hãy thủ trước nó trong tay áo. Những kẻ phá lệ chuyên sử dụng mỹ từ đen, làm trò rất khéo với các lá bài của mình, tự bày ra cuộc chơi và sử dụng bất kỳ công cụ, biện pháp và phương pháp kỹ năng nào – và mọi, mọi cơ hội.
• Mỹ từ đen được bao hàm trong việc sử dụng qua lời nói có lợi cho mình tất cả sự thô bỉ biện chứng và mỹ từ; nhờ nó mà các tình huống được đẳng cấp hóa, loại trừ mọi đẳng cấp; được xác định, và sau đó các ranh giới lý do – luận chứng bị phá vỡ, các vấn đề được tạo gia một cách gượng ép, còn các mắt xích logic bị phá vỡ rồi lại phục hồi lại với tốc độ chóng mặt.
• Mỹ từ đen là sự thỉnh cầu không ngừng để đưa ra một giải pháp mang tính xây dựng và sự phủ nhận rất khó chịu bất kỳ các đề xuất tương tự bằng tất cả các phương tiện của sự phá hủy tinh tế.
• Mỹ từ đen còn là nghệ thuật mầu nhiệm của sự điều khiển ngôn từ với việc sử dụng tất cả cái thiên hình vạn trạng các khả năng của ngôn ngữ và năng lực của người nói, đôi nghi nhằm mục đích phá vỡ mạch tư duy của người đối thoại.
Trong cuộc nói chuyện, mỹ từ đen châm ngòi cho cái bất ngờ, lo lắng, bất lực, cho sự im lặng tập thể tước bỏ động cơ và không mang tính xây dựng, mà tại đỉnh điểm của nó, hệt như được đặt hàng trước, sẽ xuất hiện hình ảnh hư ảo của “chàng kỵ sỹ trong bộ áo giáp trắng”, ngay lập tức giúp vượt qua được tình huống bế tắc. Tác giả của kịch bản này sẽ là người chiếm ưu thế vô giá.
Bí mật và tạo ra sự say mê, mỹ từ đen giống ma thuật đen, tàn nhẫn không thương tiếc, giống PR đen, công cụ hóa và cá nhân hóa các hành động giao tiếp của chúng ta. Bất chấp học thuyết về màu sắc, trong đó màu đen được mô tả như “lỗ thủng màu sắc”, mỹ từ đen là hỗn hợp nhiều màu sặc sỡ của các phương thức, biện pháp và công cụ kỹ năng khác nhau nhất, đồng thời cũng rất lôi cuốn và đầy mánh khóe, được vận dụng bởi người dùng. Làm gì có ai không thích dùng mưu khi muốn lôi cái đầu mình ra khỏi thòng lọng, chẳng hơn là xiết cho nó chặt thêm hay sao? Sự lựa chọn phương tiện trong mỹ từ có ý nghĩa quyết định; chiếc tủ thuốc độc của nó – không phải dành cho những người chi ly tỉ mỉ, và mỗi loại thuốc đều có mác đảm bảo chất lượng. Trong tác phẩm kinh điển “Wörter machen Leute”, bằng hình thức trinh thám hiện đại, Wolf Schneider đã kể về cách ứng dụng mỹ từ đen và khả năng biểu lộ ý nghĩ bằng lời nói, dỡ bỏ mọi vỏ bọc ngôn từ của nó. Nhưng, ông cũng tránh các khái niệm mánh khóe lời nói, tài tranh luận/nghệ thuật đấu khẩu khi đưa ra phép biện chứng đồng thời che giấu độc giả mỹ từ đen, còn mỹ từ trắng thì ngược lại, trưng ra hết cỡ. Điều đó rõ ràng là không đủ. Vậy là có thêm một lý do nữa để viết cuốn sách này.
MỸ TỪ ĐEN: KHÁM PHÁ MA THUẬT CỦA NGÔN TỪ
Tác giả: Kaestern Bredemeier
Thái Hồng Sơn dịch
NXB Tổng hợp TP.HCM
Số trang: 360, Giá bán: 58.000 VND
(Còn nữa)
Mỹ từ đen: Khám phá ma lực của ngôn từ (Phần Một)
Kaestern Bredemeier; Thái Hồng Sơn dịch
Giống như một thứ ma thuật đen hay PR đen, mỹ từ đen là sự vận dụng tất cả các phương tiện và biện pháp mỹ từ trong đàm phán hoặc phát biểu để xoay chuyển câu chuyện theo ý mình và đưa người phản biện hoặc người nghe đến với kết luận bạn mong muốn, phân biệt trong bối cảnh nào và với vấn đề nào thì các lập luận của bạn trở nên vô nghĩa hoặc có ý nghĩa quyết định; gỡ bỏ mâu thuẫn và đem lại “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mỗi câu chuyện; biến suy nghĩ và hành vi tiêu cực của người đối thoại thành tích cực và mang tính xây dựng; giúp bạn gỡ rối các tình huống khó xử một cách linh hoạt và lịch lãm; giúp bạn giữ được bình tĩnh và tự tin trong những cuộc tranh cãi nảy lửa.
MỸ TỪ ĐEN
Một bài báo với tựa đề “Sự buông thả ngôn từ tại thung lũng Silicon” đăng trên tờ USD Today số ra ngày 24/01/2002 đã phát đi một thông điệp rằng, các công ty Sun và Oracle tấn công Microsoft của Bill Gates (và Gates, dĩ nhiên, cũng trả đũa ngay) với cả một tá những phát ngôn, chẳng khác nào những cú đánh dưới thắt lưng. Trong quá trình kiện tụng, Larry Ellison, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Oracle đã cho phép mình dùng những câu kiểu như “Mặc dù chẳng ưa gì Microsoft, nhưng chúng tôi không tin vào sự trợ giúp của nhà nước!” Vụ hiềm khích này cũng xứng với cái thời mà trùm báo chí Ted Turner gọi đối thủ Rupert Murdoc là Hitler, mà hành động đó được diễn ra tới hai lần liền (một lần thậm chí Ted Turner còn thề độc). Còn kiểu xỉ vả nhau không thương tiếc, tưởng như xúc đất đổ đi được thì phải kể tới các sếp công nghệ cao. Mấy vụ võ mồm trong làng Hi-tech này, theo như tờ USA Today thì thật chẳng khác nào việc các hãng này công khai thể hiện sự đê tiện của mình. Tuy vậy, nhiều nhân viên tại các chi nhánh Âu châu của các hãng này lại nhìn nhận sự việc xảy ra hoàn toàn theo một cách khác. Họ cảm thấy khó chịu khi nghe những tiếng hét hân hoan và vỗ tay sau mỗi loạt ngôn từ đang được dịp củng cố tính đúng đắn trong các định kiến của mình. Và cùng với người thân, bạn bè, họ đánh giá sự việc xảy ra như một trang đen tối của cuộc chiến kinh tế đang ngày càng gia tăng vì sự phân chia lại thị phần, vì sự thống trị không thể chia sẻ trong một lĩnh vực, nơi mà các chỉ số bán hàng không hề tăng hoặc thậm chí ngày càng giảm. Trong một cuộc chiến như vậy thì mọi thủ đoạn đều tốt, còn mỹ từ đen thì không chỉ được cho phép, mà còn được hợp thức hóa.
Các cấp độ gia tăng khẩu chiến trong cuộc chiến kinh tế này được cấu thành từ đủ mọi yếu tố. Chủ tịch HĐQT của Bank of America gọi người đứng đầu hãng cạnh tranh Citibank Group là Butthead – một từ có thể dịch nhiều cách khác nhau mà tôi thấy không nên nhắc tới dù chỉ một trong số đó. Qua rồi cái thời mà giáo sư Jerald Mayers, cựu Chủ tịch HĐQT hãng American Motors có thể tự tin khẳng định: “Tinh thần hận thù có ở khắp nơi, nhưng nó không có đất sống trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đề tài kiểu đó chỉ được nói tại các CLB đồng quê bên ly rượu Martini”. Rosabert Moss Canter, tác giả một cuốn sách bán chạy và đồng thời là một chuyên gia tư vấn tên tuổi đã từng nhận xét về ngành công nghệ thông tin tại thung lũng Silicon như thế này: “Ngành công nghiệp này đang ở tuổi ấu nhi, vì vậy cần kiên nhẫn với kiểu đỏng đảnh trẻ con của nó”- nếu không thì sự khó chịu sẽ được ngụy trang đằng sau vẻ ngoài lịch thiệp, và điều đó sẽ chẳng ích cho ai.
“Tại sao không dội cho kẻ cạnh tranh một thùng nước bẩn?” – những câu hỏi kiểu đó thường được đặt ra tại các cuộc họp lãnh đạo các công ty. Tấn công kẻ thù trong lĩnh vực lợi ích của nó là một việc nên làm vì ta vừa có cơ hội dội gáo nước bẩn xuống đầu kẻ cạnh tranh trên báo chí, vừa được tận hưởng sự chú ý nhất định đối với bản thân và sự hưởng ứng của thiên hạ. Mặt khác, điều đó cũng làm tăng “gia vị” cho những buổi chuyện trò không khách khí của giới kinh doanh. Theo tờ USA Today, ở Mỹ thường tồn tại ba thể loại võ mồm kiểu đó.
1. Chiêu “Tấn công bằng gây sốc”
Đây là cách được áp dụng vào thực tiễn và hoàn thiện trong phát ngôn của Ted Turner nói về Rupert Murdoc: “Chẳng khác nào gã Quốc trưởng quá cố (Hitler), lão ta kiểm soát các phương tiện truyền thông theo kiểu có lợi cho lão”. Tuy nhiên, sau đó Turner có dịu giọng đôi chút khi lớn tiếng tuyên bố rằng, ông ta chỉ coi đối thủ của mình là “nỗi nhục Australia” của báo chí. Murdoc im lặng, nhưng các phương tiện truyền thông trong tay ông ta đặt câu hỏi, liệu câu phát ngôn trên có phải là kết quả của “việc uống quá nhiều thuốc của bệnh nhân mắc hội chứng cuồng - trầm uất” hay không? (New-York Times).
2. Chiêu “Hủy hoại dần”, hay “Xem còn nghĩ được gì hơn không”
Khi quyết định ai sẽ thống trị thị trường điện thoại Mỹ, McGowan của hãng MCI đã gọi sản phẩm của AT&T là “sleazy” (nhếch nhác), rồi sau đó thêm rằng, những sản phẩm kiểu đó không thể có chỗ đứng trên thị trường. Cuối cùng, ông ta kết luận rằng: “Chúng tôi chăm chú dõi theo những gì AT&T đang làm, và sẽ hành xử khác hẳn”. McGowan đã tiếp tục tông giọng đó, cho tới khi AT&T bị chính phủ dẹp tiệm.
3. Chiêu “Huynh đệ tương tàn”
Mọi người hẳn đều biết đến những cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa Coca-Cola và Pepsi, Burger King và McDonald’s hay Ford và General Motors. Các kết quả nghiên cứu của cái gọi là “Pepsi Challenge Test” đã chứng minh rằng, đa số người tiêu dùng Coca-Cola đều khóai vị Pepsi hơn – một mẹo quảng cáo được tỉa tót bởi Chủ tịch HĐQT Pepsi Roger Enrico, người đưa ra tuyên bố vào đúng thời điểm nóng nhất của vụ xì căng đan này: “Chúng tôi đang thưởng thức vị ngọt của cuộc chiến với Coca. Chúng tôi biết rằng nó đang có lợi cho chuyện kinh doanh – và cho tất cả các nhãn hiệu đồ uống không cồn!” Kể từ đó, các tay du kích võ mồm đã chuyển sang trận địa bắn tỉa và ngồi nhấm nháp sự tinh tế của bản thân. Họ làm chơi chơi vậy thôi nhưng vẫn hưởng lương đều đều. Đã thế, họ vẫn duy trì các hoạt động tiếp thị với hỏa lực bắn chặn võ mồm, vẽ ra cho người tiêu dùng một phương hướng mới, đòi hỏi mọi người đánh giá và củng cố những định kiến của riêng mình hay chiếm giữ một vị trí nhất định.
Sự thù hận giữa các vị Chủ tịch HĐQT Scott McNealy (hãng Sun Microsystems) và Larry Ellison (hãng Oracle), và một bên là Bill Gates được thể hiện ở: 1) các cuộc tấn công vào đời tư kết hợp với 2) các vụ châm chọc bệnh hoạn và 3) những vụ công kích huynh đệ tương tàn nhằm đạt được mức độ đối đầu mới, nhờ đó kết hợp được cả ba chiêu thức võ mồm nêu trên thành một sức mạnh tổng lực.
Tờ USA Today gọi McNealy là “thằng hề mua vui cho công chúng” bằng những trò cười luôn đi kèm sự chỉ trích hủy diệt nhằm vào Microsoft khiến chính các nhân viên PR của hãng mình phải bó tay. Khi được phỏng vấn, ông ta rất hả hê nhận bóng và chuyền tiếp rất nhiều quả thẳng vào lưới Microsoft. Mới đây, ông chủ Sun Microsystems còn tuyên bố rằng “tay hề Bozo còn điều hành Microsoft hiệu quả hơn” đội nhà Bill Gates.
Mới đầu micro còn chưa được bật, tuy nhiên, sau đó McNealy lặp lại chính xác từng từ một, và còn theo dõi để mọi thứ được ghi âm lại. Vụ công kích này ngay lập tức được công bố và được báo chí thổi phồng. McNealy hả hê mừng chiến thắng và thấy cần phải dấn thêm một bước nữa: “Gã hề Bozo có thể chơi tốt con bài độc quyền. Song, để làm điều đó, ông ta chẳng hề cần tới tài năng của người lãnh đạo”.
Ai là người dám gọi Chủ tịch HĐQT Microsoft Balmer là “Ballmer và Buthead”? Còn ai ngoài McNealy. Ai đã đổi tên Windows C.E. thành “wince” (nghĩa là “rụt lại”)? Lại cũng là McNealy. Ai dám biến từ “Outlook” thành “Look out” (nghĩa là “cẩn thận!”)? Cũng lại McNealy.
Chính ông ta đã thẳng tay vả vào mặt Microsoft và tự ôm vào mình cái sứ mệnh là làm sao để sau khi qua đời, con cái ông ta không phải sống trong một thế giới Microsoft với niềm tin rằng sáng kiến của Microsoft dưới tên gọi “Hailstorm” (nghĩa là “mưa đá”) “có thể phù hợp với nghĩa đen của từ này hơn bất kỳ sáng kiến công nghệ nào khác trong lịch sử nhân loại. Hàng triệu tảng băng rơi xuống đầu bạn với tốc độ điên cuồng, chẳng biết chạy đâu cho thóat, và chúng sẽ giết sạch từng người” – hàng triệu tảng băng hủy hoại mọi người và mọi thứ, không chừa lại cái gì. Để xoá tên hãng Microsoft khỏi màn hình, Chủ tịch HĐQT hãng Oracle Larry Ellison đã phải sử dụng tới các hiệu ứng sân khấu. Ví dụ, tại một buổi lễ, ông ta đã thu hút sự chú ý của hàng ngàn đại diện của thế giới Internet bằng một bức thư điện tử giả “I love you, Larry”, đi kèm với những tiếng kêu thất thanh “Virus! Virus!”. Ellison gọi Microsoft là “Công ty của Ngài Hay hờn dỗi”, để chứng tỏ cái sự ghét cay ghét đắng kẻ cạnh tranh của mình.
Trong tất cả các vụ này, chúng ta đều chạm trán với mỹ từ đen – ngôn từ được hình thành có ý thức trong lời nói và được găm đủ những bom mìn của khẩu khí và được “nêm” thêm các từ ngữ độc địa chẳng kém gì thuốc chuột. Vượt ra khỏi khuôn khổ các vấn đề về sản xuất, lối nói đó hướng tới đông đảo công chúng.
Vì khi đọc cuốn sách viết về mỹ từ đen này, cũng như khi sử dụng các kỹ năng và công cụ được mô tả trong sách hoặc là để tự bảo vệ khỏi những thứ đó, bạn sẽ phải sử dụng các khả năng bất tận của ngôn ngữ một cách thiện nghệ, vận dụng các từ ngữ riêng lẻ với ý nghĩa chính xác của chúng và kiểm tra tính hiệu quả tác động của các mắt xích luận chứng khác nhau. Sẽ thật có ích nếu giờ đây, những nỗ lực đó của bạn cùng nhấn mạnh những điểm sau:
Sự kêu gọi hay các đòi hỏi hàm chứa trong lời nói của chúng ta sẽ kích thích hành động, và chính điều đó là chức năng chính của ngôn từ.
* Lời nói giúp ta chỉ đạo nhất quán các hành động của mình không chỉ qua các chiến lược mục tiêu tiềm năng mà còn qua việc tuyên bố những ý tưởng hoàn toàn viển vông, chủ yếu là dựa vào cách đưa ra các đánh giá, các phán đoán hoặc các thủ thuật có lợi, hoặc nhờ cách vận động hiệu quả.
* Lời nói thay thế cho hành động: trước Năm mới chúng ta tuyên bố về những dự định tốt đẹp nhất của mình, và gần tới Giáng sinh thì đã kịp quên hết, chúng ta xốc nổi lên những kế hoạch không tưởng và chịu thất bại khi áp dụng chúng vào cuộc sống (không chỉ tại những thị trường mới), nơi mà chỉ lời nói thôi chưa đủ mà quên mất là nói xong còn phải làm nữa.
* Lời nói còn hợp thức hóa hành động của chúng ta. Khi lớn tiếng tuyên bố với mọi người về “giọng nói bên trong mách bảo chúng ta cần phải và không phải làm gì” (Hanna Arendt – nhà văn Đức), chúng ta coi như đó là tiếng nói của lương tâm.
* Chúng ta dùng lời nói giới thiệu hành vi của mình, điều đã xảy ra, hoặc đưa ra cơ sở lời nói cho việc chúng ta đã làm hoặc không làm gì.
* Lời nói giúp ta chỉ đạo nhất quán các hành động của mình không chỉ qua các chiến lược mục tiêu tiềm năng mà còn qua việc tuyên bố những ý tưởng hoàn toàn viển vông, chủ yếu là dựa vào cách đưa ra các đánh giá, các phán đoán hoặc các thủ thuật có lợi, hoặc nhờ cách vận động hiệu quả.
* Cuối cùng, lời nói của chúng ta cũng chính là hành động: bất kỳ cặn bã gì của môi miệng, bất kể sự dối trá ác ý gì hay sự làm chứng giả dối nào cũng như mỗi lời nói xúc phạm nào đều nêu bật tính tội lỗi của hành động được kích thích bởi ngôn từ. Cái lưỡi của chúng ta (ngoài dành cho cái hôn) là thứ đơn giản nhất, đồng thời cũng là công cụ giao tiếp đáng kinh ngạc nhất mà loài người nắm giữ, - và mặc dù vậy, đa số chúng ta sử dụng nó một cách vụng về chẳng khác nào múa một thanh gươm hai lưỡi cồng kềnh, thay vì điều khiển nó một cách nhẹ nhàng và tinh tế như một thanh kiếm sắc nhọn thiên biến vạn hóa, hiệu quả không khoan nhượng trong điệu vũ mê đắm của mình.
MỸ TỪ ĐEN: KHÁM PHÁ MA THUẬT CỦA NGÔN TỪ
Tác giả: Kaestern Bredemeier
Thái Hồng Sơn dịch
NXB Tổng hợp TP.HCM
Số trang: 360, Giá bán: 58.000 VND
(Còn nữa)
Giống như một thứ ma thuật đen hay PR đen, mỹ từ đen là sự vận dụng tất cả các phương tiện và biện pháp mỹ từ trong đàm phán hoặc phát biểu để xoay chuyển câu chuyện theo ý mình và đưa người phản biện hoặc người nghe đến với kết luận bạn mong muốn, phân biệt trong bối cảnh nào và với vấn đề nào thì các lập luận của bạn trở nên vô nghĩa hoặc có ý nghĩa quyết định; gỡ bỏ mâu thuẫn và đem lại “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mỗi câu chuyện; biến suy nghĩ và hành vi tiêu cực của người đối thoại thành tích cực và mang tính xây dựng; giúp bạn gỡ rối các tình huống khó xử một cách linh hoạt và lịch lãm; giúp bạn giữ được bình tĩnh và tự tin trong những cuộc tranh cãi nảy lửa.
MỸ TỪ ĐEN
Một bài báo với tựa đề “Sự buông thả ngôn từ tại thung lũng Silicon” đăng trên tờ USD Today số ra ngày 24/01/2002 đã phát đi một thông điệp rằng, các công ty Sun và Oracle tấn công Microsoft của Bill Gates (và Gates, dĩ nhiên, cũng trả đũa ngay) với cả một tá những phát ngôn, chẳng khác nào những cú đánh dưới thắt lưng. Trong quá trình kiện tụng, Larry Ellison, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Oracle đã cho phép mình dùng những câu kiểu như “Mặc dù chẳng ưa gì Microsoft, nhưng chúng tôi không tin vào sự trợ giúp của nhà nước!” Vụ hiềm khích này cũng xứng với cái thời mà trùm báo chí Ted Turner gọi đối thủ Rupert Murdoc là Hitler, mà hành động đó được diễn ra tới hai lần liền (một lần thậm chí Ted Turner còn thề độc). Còn kiểu xỉ vả nhau không thương tiếc, tưởng như xúc đất đổ đi được thì phải kể tới các sếp công nghệ cao. Mấy vụ võ mồm trong làng Hi-tech này, theo như tờ USA Today thì thật chẳng khác nào việc các hãng này công khai thể hiện sự đê tiện của mình. Tuy vậy, nhiều nhân viên tại các chi nhánh Âu châu của các hãng này lại nhìn nhận sự việc xảy ra hoàn toàn theo một cách khác. Họ cảm thấy khó chịu khi nghe những tiếng hét hân hoan và vỗ tay sau mỗi loạt ngôn từ đang được dịp củng cố tính đúng đắn trong các định kiến của mình. Và cùng với người thân, bạn bè, họ đánh giá sự việc xảy ra như một trang đen tối của cuộc chiến kinh tế đang ngày càng gia tăng vì sự phân chia lại thị phần, vì sự thống trị không thể chia sẻ trong một lĩnh vực, nơi mà các chỉ số bán hàng không hề tăng hoặc thậm chí ngày càng giảm. Trong một cuộc chiến như vậy thì mọi thủ đoạn đều tốt, còn mỹ từ đen thì không chỉ được cho phép, mà còn được hợp thức hóa.
Các cấp độ gia tăng khẩu chiến trong cuộc chiến kinh tế này được cấu thành từ đủ mọi yếu tố. Chủ tịch HĐQT của Bank of America gọi người đứng đầu hãng cạnh tranh Citibank Group là Butthead – một từ có thể dịch nhiều cách khác nhau mà tôi thấy không nên nhắc tới dù chỉ một trong số đó. Qua rồi cái thời mà giáo sư Jerald Mayers, cựu Chủ tịch HĐQT hãng American Motors có thể tự tin khẳng định: “Tinh thần hận thù có ở khắp nơi, nhưng nó không có đất sống trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đề tài kiểu đó chỉ được nói tại các CLB đồng quê bên ly rượu Martini”. Rosabert Moss Canter, tác giả một cuốn sách bán chạy và đồng thời là một chuyên gia tư vấn tên tuổi đã từng nhận xét về ngành công nghệ thông tin tại thung lũng Silicon như thế này: “Ngành công nghiệp này đang ở tuổi ấu nhi, vì vậy cần kiên nhẫn với kiểu đỏng đảnh trẻ con của nó”- nếu không thì sự khó chịu sẽ được ngụy trang đằng sau vẻ ngoài lịch thiệp, và điều đó sẽ chẳng ích cho ai.
“Tại sao không dội cho kẻ cạnh tranh một thùng nước bẩn?” – những câu hỏi kiểu đó thường được đặt ra tại các cuộc họp lãnh đạo các công ty. Tấn công kẻ thù trong lĩnh vực lợi ích của nó là một việc nên làm vì ta vừa có cơ hội dội gáo nước bẩn xuống đầu kẻ cạnh tranh trên báo chí, vừa được tận hưởng sự chú ý nhất định đối với bản thân và sự hưởng ứng của thiên hạ. Mặt khác, điều đó cũng làm tăng “gia vị” cho những buổi chuyện trò không khách khí của giới kinh doanh. Theo tờ USA Today, ở Mỹ thường tồn tại ba thể loại võ mồm kiểu đó.
1. Chiêu “Tấn công bằng gây sốc”
Đây là cách được áp dụng vào thực tiễn và hoàn thiện trong phát ngôn của Ted Turner nói về Rupert Murdoc: “Chẳng khác nào gã Quốc trưởng quá cố (Hitler), lão ta kiểm soát các phương tiện truyền thông theo kiểu có lợi cho lão”. Tuy nhiên, sau đó Turner có dịu giọng đôi chút khi lớn tiếng tuyên bố rằng, ông ta chỉ coi đối thủ của mình là “nỗi nhục Australia” của báo chí. Murdoc im lặng, nhưng các phương tiện truyền thông trong tay ông ta đặt câu hỏi, liệu câu phát ngôn trên có phải là kết quả của “việc uống quá nhiều thuốc của bệnh nhân mắc hội chứng cuồng - trầm uất” hay không? (New-York Times).
2. Chiêu “Hủy hoại dần”, hay “Xem còn nghĩ được gì hơn không”
Khi quyết định ai sẽ thống trị thị trường điện thoại Mỹ, McGowan của hãng MCI đã gọi sản phẩm của AT&T là “sleazy” (nhếch nhác), rồi sau đó thêm rằng, những sản phẩm kiểu đó không thể có chỗ đứng trên thị trường. Cuối cùng, ông ta kết luận rằng: “Chúng tôi chăm chú dõi theo những gì AT&T đang làm, và sẽ hành xử khác hẳn”. McGowan đã tiếp tục tông giọng đó, cho tới khi AT&T bị chính phủ dẹp tiệm.
3. Chiêu “Huynh đệ tương tàn”
Mọi người hẳn đều biết đến những cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa Coca-Cola và Pepsi, Burger King và McDonald’s hay Ford và General Motors. Các kết quả nghiên cứu của cái gọi là “Pepsi Challenge Test” đã chứng minh rằng, đa số người tiêu dùng Coca-Cola đều khóai vị Pepsi hơn – một mẹo quảng cáo được tỉa tót bởi Chủ tịch HĐQT Pepsi Roger Enrico, người đưa ra tuyên bố vào đúng thời điểm nóng nhất của vụ xì căng đan này: “Chúng tôi đang thưởng thức vị ngọt của cuộc chiến với Coca. Chúng tôi biết rằng nó đang có lợi cho chuyện kinh doanh – và cho tất cả các nhãn hiệu đồ uống không cồn!” Kể từ đó, các tay du kích võ mồm đã chuyển sang trận địa bắn tỉa và ngồi nhấm nháp sự tinh tế của bản thân. Họ làm chơi chơi vậy thôi nhưng vẫn hưởng lương đều đều. Đã thế, họ vẫn duy trì các hoạt động tiếp thị với hỏa lực bắn chặn võ mồm, vẽ ra cho người tiêu dùng một phương hướng mới, đòi hỏi mọi người đánh giá và củng cố những định kiến của riêng mình hay chiếm giữ một vị trí nhất định.
Sự thù hận giữa các vị Chủ tịch HĐQT Scott McNealy (hãng Sun Microsystems) và Larry Ellison (hãng Oracle), và một bên là Bill Gates được thể hiện ở: 1) các cuộc tấn công vào đời tư kết hợp với 2) các vụ châm chọc bệnh hoạn và 3) những vụ công kích huynh đệ tương tàn nhằm đạt được mức độ đối đầu mới, nhờ đó kết hợp được cả ba chiêu thức võ mồm nêu trên thành một sức mạnh tổng lực.
Tờ USA Today gọi McNealy là “thằng hề mua vui cho công chúng” bằng những trò cười luôn đi kèm sự chỉ trích hủy diệt nhằm vào Microsoft khiến chính các nhân viên PR của hãng mình phải bó tay. Khi được phỏng vấn, ông ta rất hả hê nhận bóng và chuyền tiếp rất nhiều quả thẳng vào lưới Microsoft. Mới đây, ông chủ Sun Microsystems còn tuyên bố rằng “tay hề Bozo còn điều hành Microsoft hiệu quả hơn” đội nhà Bill Gates.
Mới đầu micro còn chưa được bật, tuy nhiên, sau đó McNealy lặp lại chính xác từng từ một, và còn theo dõi để mọi thứ được ghi âm lại. Vụ công kích này ngay lập tức được công bố và được báo chí thổi phồng. McNealy hả hê mừng chiến thắng và thấy cần phải dấn thêm một bước nữa: “Gã hề Bozo có thể chơi tốt con bài độc quyền. Song, để làm điều đó, ông ta chẳng hề cần tới tài năng của người lãnh đạo”.
Ai là người dám gọi Chủ tịch HĐQT Microsoft Balmer là “Ballmer và Buthead”? Còn ai ngoài McNealy. Ai đã đổi tên Windows C.E. thành “wince” (nghĩa là “rụt lại”)? Lại cũng là McNealy. Ai dám biến từ “Outlook” thành “Look out” (nghĩa là “cẩn thận!”)? Cũng lại McNealy.
Chính ông ta đã thẳng tay vả vào mặt Microsoft và tự ôm vào mình cái sứ mệnh là làm sao để sau khi qua đời, con cái ông ta không phải sống trong một thế giới Microsoft với niềm tin rằng sáng kiến của Microsoft dưới tên gọi “Hailstorm” (nghĩa là “mưa đá”) “có thể phù hợp với nghĩa đen của từ này hơn bất kỳ sáng kiến công nghệ nào khác trong lịch sử nhân loại. Hàng triệu tảng băng rơi xuống đầu bạn với tốc độ điên cuồng, chẳng biết chạy đâu cho thóat, và chúng sẽ giết sạch từng người” – hàng triệu tảng băng hủy hoại mọi người và mọi thứ, không chừa lại cái gì. Để xoá tên hãng Microsoft khỏi màn hình, Chủ tịch HĐQT hãng Oracle Larry Ellison đã phải sử dụng tới các hiệu ứng sân khấu. Ví dụ, tại một buổi lễ, ông ta đã thu hút sự chú ý của hàng ngàn đại diện của thế giới Internet bằng một bức thư điện tử giả “I love you, Larry”, đi kèm với những tiếng kêu thất thanh “Virus! Virus!”. Ellison gọi Microsoft là “Công ty của Ngài Hay hờn dỗi”, để chứng tỏ cái sự ghét cay ghét đắng kẻ cạnh tranh của mình.
Trong tất cả các vụ này, chúng ta đều chạm trán với mỹ từ đen – ngôn từ được hình thành có ý thức trong lời nói và được găm đủ những bom mìn của khẩu khí và được “nêm” thêm các từ ngữ độc địa chẳng kém gì thuốc chuột. Vượt ra khỏi khuôn khổ các vấn đề về sản xuất, lối nói đó hướng tới đông đảo công chúng.
Vì khi đọc cuốn sách viết về mỹ từ đen này, cũng như khi sử dụng các kỹ năng và công cụ được mô tả trong sách hoặc là để tự bảo vệ khỏi những thứ đó, bạn sẽ phải sử dụng các khả năng bất tận của ngôn ngữ một cách thiện nghệ, vận dụng các từ ngữ riêng lẻ với ý nghĩa chính xác của chúng và kiểm tra tính hiệu quả tác động của các mắt xích luận chứng khác nhau. Sẽ thật có ích nếu giờ đây, những nỗ lực đó của bạn cùng nhấn mạnh những điểm sau:
Sự kêu gọi hay các đòi hỏi hàm chứa trong lời nói của chúng ta sẽ kích thích hành động, và chính điều đó là chức năng chính của ngôn từ.
* Lời nói giúp ta chỉ đạo nhất quán các hành động của mình không chỉ qua các chiến lược mục tiêu tiềm năng mà còn qua việc tuyên bố những ý tưởng hoàn toàn viển vông, chủ yếu là dựa vào cách đưa ra các đánh giá, các phán đoán hoặc các thủ thuật có lợi, hoặc nhờ cách vận động hiệu quả.
* Lời nói thay thế cho hành động: trước Năm mới chúng ta tuyên bố về những dự định tốt đẹp nhất của mình, và gần tới Giáng sinh thì đã kịp quên hết, chúng ta xốc nổi lên những kế hoạch không tưởng và chịu thất bại khi áp dụng chúng vào cuộc sống (không chỉ tại những thị trường mới), nơi mà chỉ lời nói thôi chưa đủ mà quên mất là nói xong còn phải làm nữa.
* Lời nói còn hợp thức hóa hành động của chúng ta. Khi lớn tiếng tuyên bố với mọi người về “giọng nói bên trong mách bảo chúng ta cần phải và không phải làm gì” (Hanna Arendt – nhà văn Đức), chúng ta coi như đó là tiếng nói của lương tâm.
* Chúng ta dùng lời nói giới thiệu hành vi của mình, điều đã xảy ra, hoặc đưa ra cơ sở lời nói cho việc chúng ta đã làm hoặc không làm gì.
* Lời nói giúp ta chỉ đạo nhất quán các hành động của mình không chỉ qua các chiến lược mục tiêu tiềm năng mà còn qua việc tuyên bố những ý tưởng hoàn toàn viển vông, chủ yếu là dựa vào cách đưa ra các đánh giá, các phán đoán hoặc các thủ thuật có lợi, hoặc nhờ cách vận động hiệu quả.
* Cuối cùng, lời nói của chúng ta cũng chính là hành động: bất kỳ cặn bã gì của môi miệng, bất kể sự dối trá ác ý gì hay sự làm chứng giả dối nào cũng như mỗi lời nói xúc phạm nào đều nêu bật tính tội lỗi của hành động được kích thích bởi ngôn từ. Cái lưỡi của chúng ta (ngoài dành cho cái hôn) là thứ đơn giản nhất, đồng thời cũng là công cụ giao tiếp đáng kinh ngạc nhất mà loài người nắm giữ, - và mặc dù vậy, đa số chúng ta sử dụng nó một cách vụng về chẳng khác nào múa một thanh gươm hai lưỡi cồng kềnh, thay vì điều khiển nó một cách nhẹ nhàng và tinh tế như một thanh kiếm sắc nhọn thiên biến vạn hóa, hiệu quả không khoan nhượng trong điệu vũ mê đắm của mình.
MỸ TỪ ĐEN: KHÁM PHÁ MA THUẬT CỦA NGÔN TỪ
Tác giả: Kaestern Bredemeier
Thái Hồng Sơn dịch
NXB Tổng hợp TP.HCM
Số trang: 360, Giá bán: 58.000 VND
(Còn nữa)
27/11/08
AM HIỂU GIỚI TRUYỀN THÔNG
Bằng việc hiểu rõ các nhu cầu và tính chất công việc của các nhà báo, các chủ bút, chiến dịch PR của bạn chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn nhờ khả năng thu hút giới truyền thông tốt hơn.
Khi tiếp cận giới truyền thông, nhiều chuyên gia PR sử dụng các công cụ và kỹ thuật khác nhau để có được sự quan tâm của họ. Nó trải rộng từ những kiểu trình bày chủ đề bài báo hết sức đặc biệt đến những định dạng gây chú ý hoặc các câu chào hỏi hấp dẫn.
Những kỹ thuật như vậy có thể hiệu quả khá nhiều lần, nhưng chúng không thể hiệu quả mãi mãi. Đơn giản là do: mỗi nhà báo là một con người khác biệt.
Tất cả các nhà báo đều có các nhu cầu, mối quan tâm, mục tiêu cũng như phong cách sống khác nhau. Đó là lý do tại sao thật quan trọng để hiểu quan điểm của các nhà báo. Bạn sẽ phải mất đôi chút công sức, nhưng chắc chắn không lãng phí chút nào.
Đối với các doanh nghiệp bán sản phẩm hay cung cấp dịch vụ nhiều khách hàng khác nhau, việc “đi guốc trong bụng” ai đó có thể rất tự nhiên. Các kỹ năng bán hàng là cần thiết để kết thúc các giao dịch và chúng cũng không khác mấy các kỹ năng cần có để nhà báo quan tâm tới bài PR của bạn.
Điểm mấu chốt là chúng ta cần sử dụng những kỹ năng này theo cách thức hợp lý tại thời điểm thích hợp nhất. Đó là lý do tại sao bạn cần một chiến lược cụ thể để thu hút sự chú ý của các nhà báo và có được sự tin tưởng của họ.
Hiểu rõ quan điểm của các nhà báo
Lá thư xúc tiến (pitch letter), được gửi qua email, là phương tiện chính yếu để truyền tải ý tưởng câu truyện của bạn. Nó cần mang tính chất giới thiệu và có nội dung được diễn đạt theo cách thức gây được sự tò mò đồng thời thúc đẩy hành động. Để làm được thế, trước tiên bạn cần đánh giá đúng những gì là quan trọng đối với họ:
- Độc giả: Đầu tiên, bạn cần nghiên cứu đối tượng mà tờ báo đó hướng tới là ai. Họ viết cho ai xem? Phong cách viết là gì? Hãy hình dung ra một độc giả điển hình của họ. Nhà báo sẽ viết bài để thoả mãn mối quan tâm của các đối tượng này.
Ví dụ, độc giả của tờ báo khu vực thường ưa thích các khía cạnh mang tính địa phương hay “những người bạn láng giềng”, trong khi đọc giả của các tạp chí kinh doanh thường mong muốn những bài viết liên quan tới bán hàng, sức mạnh tài chính và các công cụ kinh doanh khác. Việc hiểu những sắc thái này sẽ cho phép bạn tạo dựng được một chiến lược PR “đánh đúng điểm yếu” của nhà báo.
- Giọng điệu, phong cách và chủ đề trọng tâm: Tiếp theo, bạn hãy nghiên cứu những câu truyện nằm trong danh sách ưu tiên của các nhà báo. Khi đọc các bài viết của họ, hãy chú ý những nội dung nào được các nhà báo chú ý. Họ có nhìn vào khía cạnh con người của câu truyện hay chỉ đơn giản là những sự thật lạnh lẽo? Bạn cũng không thể bỏ qua phong cách, giọng điệu và suy nghĩ của họ. Các chủ đề được miêu tả dưới các câu chữ tích cực? Họ có thường xuyên đứng trên lập trường đối nghịch? Nếu như vậy, bạn có thể muốn suy nghĩ lại hành động tiếp cận của mình.
- Thời điểm: Yếu tố này cũng tác động tới khả năng lĩnh hội của các nhà báo. Nếu bạn tiếp cận một tờ báo hàng ngay, buổi chiều sẽ luôn là thời điểm các nhà báo hết sức bận rộn để chuẩn bị các bài viết cho ngày hôm sau. Những tờ báo tuần thường kết thúc công việc vào thứ năm hay thứ sáu, nhưng tốt hơn cả bạn nên gọi điện để kiểm tra lại. Còn đối với tạp chí hàng tháng, thời điểm phát hành và ngày kết thúc rất khác nhau. Nhiều tờ báo có kế hoạch chuẩn bị trước hàng tháng, vì vậy nếu tin tức của bạn khá nhạy cảm về mặt thời gian, chắc chắn không thích hợp để tiếp cận các tạp chí kiểu này.
- Chủ bút (Biên tập, Tổng biên tập): Một điều cuối cùng cần chú ý đó là các nhà báo luôn phải giải trình trước các chủ bút. Bạn không chỉ tiếp cận các nhà báo mà còn tiếp cận các biên tập viên, đôi khi là Tổng biên tập. Các yếu tố và tầng lớp của quy trình ra quyết định sẽ tác động tới thành công hay thất bại của chiến lược PR.
Xây dựng Thư xúc tiến
Một khi bạn có được những chuẩn bị cơ bản trên, đã đến thời điểm bắt tay vào soạn thảo Thư xúc tiến. Hãy giữ giọng điệu và phong cách được chuyên nghiệp và thân thiện. Hãy bắt đầu với những giới thiệu ngắn gọn, mang tính cá nhân và nhanh chóng đi vào nội dung chính.
Bạn nên đứng trên phương diện và suy nghĩ của nhà báo khi viết. Hãy sử dụng các thông tin từ những bài viết trong quá khứ hay sự kiện ngành như là nền tảng cho bức thư. Miêu tả chủ đề thật ngắn gọn, đưa ra được hầu hết các vấn đề có giá trị từ quan điểm của người đọc sau cùng.
Hơn tất cả, đây cũng là những đối tượng mà các nhà báo hướng tới. Sau đó, quan trọng nhất là miêu tả tại sao chủ đề lại hấp dẫn người đọc của tờ báo. Một lần nữa, bạn cần đứng ở góc độ của nhà báo.
Nếu có thể, bạn nên tham khảo các bài viết mà nhà báo đã từng viết trước đây, miêu tả chúng liên quan như thế nào và tại sao câu truyện của bạn sẽ bổ sung tính hiệu quả trong thu hút người đọc. Điều này cho thấy rằng bạn rất am hiểu công việc của một người làm báo, chứ không chỉ gửi đi những email spam đơn thuần tới họ.
Cuối cùng, bạn đừng quên đưa vào lời kêu gọi hành động. Hãy hỏi các nhà báo về suy nghĩ và mối quan tâm của họ đối với câu truyện, và sau đó đề xuất các bước hành động tiếp theo. Thật quan trọng với việc gửi email vào đúng thời điểm trong ngày khi mà các nhà báo dễ dàng lĩnh hội tin tức của bạn nhất.
Điện thoại hỏi thăm
Những nỗ lực của bạn đến đây là chưa đủ, bạn sẽ không nhận được phản hồi ngay lập tức từ nhà báo. Thời điểm bạn gọi điện thoại hỏi nên tuỳ thuộc vào kế hoạch thời gian xuất bản tờ báo hay vào loại hình thông tin bạn có. Nếu tin tức của bạn khá nhạy cảm về mặt thời gian, bạn cần gọi điện ngay trong ngày. Còn bằng không, cuộc điện thoại bạn có thể để sang hôm sau cũng không kém phần hiệu quả.
Bạn sẽ cần chuẩn bị trước những gì sẽ nói. Hãy đọc lại lá thư gửi cho nhà báo và gạch chân những điểm then chốt bạn muốn truyền tải. Tránh bắt đầu với: “Anh/Chị có nhận được email của tôi?”. Hãy cố gắng đưa ra các thông tin mới hay một cuộc phỏng vấn với chủ đề trong câu chuyện PR.
Nếu nhà báo phía bên kia đầu dây tỏ vẻ cáu kỉnh hay bực tức, bạn đừng bỏ cuộc. Luôn hiệu quả với sự nhẹ nhàng hỏi xem lúc này có là thời điểm thích hợp. Các nhà báo luôn bận rộn và họ nhận được cả núi các thông tin mỗi ngày. Trên thực tế, có thể bạn gọi điện lại một vài lần chỉ để liên hệ với họ.
Khi mà cuộc điện thoại đã bắt đầu tốt đẹp, hãy lắng nghe các nhà báo nói, thay vì thao thao bất tuyệt với kế hoạch của bạn. Bạn cần luôn giữ vững các điểm chính nhưng cũng không thể không linh động. Đôi lúc một nhà báo có thể tìm kiếm điều gì đó không hoàn toàn xuất hiện trong câu truyện của bạn, nhưng bạn có thể giúp đỡ họ theo một cách nào đó.
Điều cuối cùng là bạn cần nắm vững rằng công việc của bạn sẽ có hai chủ đích: một là thu hút sự quan tâm đối với câu truyện PR của bạn và hai là xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhà báo. Đôi lúc bạn có được một mà bỏ qua yếu tố còn lại.
Entrepreneur
Khi tiếp cận giới truyền thông, nhiều chuyên gia PR sử dụng các công cụ và kỹ thuật khác nhau để có được sự quan tâm của họ. Nó trải rộng từ những kiểu trình bày chủ đề bài báo hết sức đặc biệt đến những định dạng gây chú ý hoặc các câu chào hỏi hấp dẫn.
Những kỹ thuật như vậy có thể hiệu quả khá nhiều lần, nhưng chúng không thể hiệu quả mãi mãi. Đơn giản là do: mỗi nhà báo là một con người khác biệt.
Tất cả các nhà báo đều có các nhu cầu, mối quan tâm, mục tiêu cũng như phong cách sống khác nhau. Đó là lý do tại sao thật quan trọng để hiểu quan điểm của các nhà báo. Bạn sẽ phải mất đôi chút công sức, nhưng chắc chắn không lãng phí chút nào.
Đối với các doanh nghiệp bán sản phẩm hay cung cấp dịch vụ nhiều khách hàng khác nhau, việc “đi guốc trong bụng” ai đó có thể rất tự nhiên. Các kỹ năng bán hàng là cần thiết để kết thúc các giao dịch và chúng cũng không khác mấy các kỹ năng cần có để nhà báo quan tâm tới bài PR của bạn.
Điểm mấu chốt là chúng ta cần sử dụng những kỹ năng này theo cách thức hợp lý tại thời điểm thích hợp nhất. Đó là lý do tại sao bạn cần một chiến lược cụ thể để thu hút sự chú ý của các nhà báo và có được sự tin tưởng của họ.
Hiểu rõ quan điểm của các nhà báo
Lá thư xúc tiến (pitch letter), được gửi qua email, là phương tiện chính yếu để truyền tải ý tưởng câu truyện của bạn. Nó cần mang tính chất giới thiệu và có nội dung được diễn đạt theo cách thức gây được sự tò mò đồng thời thúc đẩy hành động. Để làm được thế, trước tiên bạn cần đánh giá đúng những gì là quan trọng đối với họ:
- Độc giả: Đầu tiên, bạn cần nghiên cứu đối tượng mà tờ báo đó hướng tới là ai. Họ viết cho ai xem? Phong cách viết là gì? Hãy hình dung ra một độc giả điển hình của họ. Nhà báo sẽ viết bài để thoả mãn mối quan tâm của các đối tượng này.
Ví dụ, độc giả của tờ báo khu vực thường ưa thích các khía cạnh mang tính địa phương hay “những người bạn láng giềng”, trong khi đọc giả của các tạp chí kinh doanh thường mong muốn những bài viết liên quan tới bán hàng, sức mạnh tài chính và các công cụ kinh doanh khác. Việc hiểu những sắc thái này sẽ cho phép bạn tạo dựng được một chiến lược PR “đánh đúng điểm yếu” của nhà báo.
- Giọng điệu, phong cách và chủ đề trọng tâm: Tiếp theo, bạn hãy nghiên cứu những câu truyện nằm trong danh sách ưu tiên của các nhà báo. Khi đọc các bài viết của họ, hãy chú ý những nội dung nào được các nhà báo chú ý. Họ có nhìn vào khía cạnh con người của câu truyện hay chỉ đơn giản là những sự thật lạnh lẽo? Bạn cũng không thể bỏ qua phong cách, giọng điệu và suy nghĩ của họ. Các chủ đề được miêu tả dưới các câu chữ tích cực? Họ có thường xuyên đứng trên lập trường đối nghịch? Nếu như vậy, bạn có thể muốn suy nghĩ lại hành động tiếp cận của mình.
- Thời điểm: Yếu tố này cũng tác động tới khả năng lĩnh hội của các nhà báo. Nếu bạn tiếp cận một tờ báo hàng ngay, buổi chiều sẽ luôn là thời điểm các nhà báo hết sức bận rộn để chuẩn bị các bài viết cho ngày hôm sau. Những tờ báo tuần thường kết thúc công việc vào thứ năm hay thứ sáu, nhưng tốt hơn cả bạn nên gọi điện để kiểm tra lại. Còn đối với tạp chí hàng tháng, thời điểm phát hành và ngày kết thúc rất khác nhau. Nhiều tờ báo có kế hoạch chuẩn bị trước hàng tháng, vì vậy nếu tin tức của bạn khá nhạy cảm về mặt thời gian, chắc chắn không thích hợp để tiếp cận các tạp chí kiểu này.
- Chủ bút (Biên tập, Tổng biên tập): Một điều cuối cùng cần chú ý đó là các nhà báo luôn phải giải trình trước các chủ bút. Bạn không chỉ tiếp cận các nhà báo mà còn tiếp cận các biên tập viên, đôi khi là Tổng biên tập. Các yếu tố và tầng lớp của quy trình ra quyết định sẽ tác động tới thành công hay thất bại của chiến lược PR.
Xây dựng Thư xúc tiến
Một khi bạn có được những chuẩn bị cơ bản trên, đã đến thời điểm bắt tay vào soạn thảo Thư xúc tiến. Hãy giữ giọng điệu và phong cách được chuyên nghiệp và thân thiện. Hãy bắt đầu với những giới thiệu ngắn gọn, mang tính cá nhân và nhanh chóng đi vào nội dung chính.
Bạn nên đứng trên phương diện và suy nghĩ của nhà báo khi viết. Hãy sử dụng các thông tin từ những bài viết trong quá khứ hay sự kiện ngành như là nền tảng cho bức thư. Miêu tả chủ đề thật ngắn gọn, đưa ra được hầu hết các vấn đề có giá trị từ quan điểm của người đọc sau cùng.
Hơn tất cả, đây cũng là những đối tượng mà các nhà báo hướng tới. Sau đó, quan trọng nhất là miêu tả tại sao chủ đề lại hấp dẫn người đọc của tờ báo. Một lần nữa, bạn cần đứng ở góc độ của nhà báo.
Nếu có thể, bạn nên tham khảo các bài viết mà nhà báo đã từng viết trước đây, miêu tả chúng liên quan như thế nào và tại sao câu truyện của bạn sẽ bổ sung tính hiệu quả trong thu hút người đọc. Điều này cho thấy rằng bạn rất am hiểu công việc của một người làm báo, chứ không chỉ gửi đi những email spam đơn thuần tới họ.
Cuối cùng, bạn đừng quên đưa vào lời kêu gọi hành động. Hãy hỏi các nhà báo về suy nghĩ và mối quan tâm của họ đối với câu truyện, và sau đó đề xuất các bước hành động tiếp theo. Thật quan trọng với việc gửi email vào đúng thời điểm trong ngày khi mà các nhà báo dễ dàng lĩnh hội tin tức của bạn nhất.
Điện thoại hỏi thăm
Những nỗ lực của bạn đến đây là chưa đủ, bạn sẽ không nhận được phản hồi ngay lập tức từ nhà báo. Thời điểm bạn gọi điện thoại hỏi nên tuỳ thuộc vào kế hoạch thời gian xuất bản tờ báo hay vào loại hình thông tin bạn có. Nếu tin tức của bạn khá nhạy cảm về mặt thời gian, bạn cần gọi điện ngay trong ngày. Còn bằng không, cuộc điện thoại bạn có thể để sang hôm sau cũng không kém phần hiệu quả.
Bạn sẽ cần chuẩn bị trước những gì sẽ nói. Hãy đọc lại lá thư gửi cho nhà báo và gạch chân những điểm then chốt bạn muốn truyền tải. Tránh bắt đầu với: “Anh/Chị có nhận được email của tôi?”. Hãy cố gắng đưa ra các thông tin mới hay một cuộc phỏng vấn với chủ đề trong câu chuyện PR.
Nếu nhà báo phía bên kia đầu dây tỏ vẻ cáu kỉnh hay bực tức, bạn đừng bỏ cuộc. Luôn hiệu quả với sự nhẹ nhàng hỏi xem lúc này có là thời điểm thích hợp. Các nhà báo luôn bận rộn và họ nhận được cả núi các thông tin mỗi ngày. Trên thực tế, có thể bạn gọi điện lại một vài lần chỉ để liên hệ với họ.
Khi mà cuộc điện thoại đã bắt đầu tốt đẹp, hãy lắng nghe các nhà báo nói, thay vì thao thao bất tuyệt với kế hoạch của bạn. Bạn cần luôn giữ vững các điểm chính nhưng cũng không thể không linh động. Đôi lúc một nhà báo có thể tìm kiếm điều gì đó không hoàn toàn xuất hiện trong câu truyện của bạn, nhưng bạn có thể giúp đỡ họ theo một cách nào đó.
Điều cuối cùng là bạn cần nắm vững rằng công việc của bạn sẽ có hai chủ đích: một là thu hút sự quan tâm đối với câu truyện PR của bạn và hai là xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhà báo. Đôi lúc bạn có được một mà bỏ qua yếu tố còn lại.
Entrepreneur
24/11/08
Thông qua 7 Cs để thành công
Hãy nghĩ về điều này: Rất nhiều các doanh nghiệp đang cung cấp những mặt hàng tựng tự nhau. Khách hàng có thể mua cùng một loại hàng hóa từ bất kỳ doanh nghiệp nào trong nhóm này, thật vậy dù ở bất kỳ đâu trên thế giới họ cũng có thể làm điều đó nếu họ muốn, bởi họ có internet
Kết quả: Làm sao để marketing hiệu quả, những thay đổi khiến khả năng nắm bắt tâm lý người tiêu dùng trở lên khó khăn hơn trước. Hiện tại, marketer cần nhiều kỹ năng hơn để marketing thành công. Và tất nhiên nó yêu cầu nhiều hơn một chiến lược ngắn hạn hoặc một vài phương thức marketing.
Đó là sự phù hợp
Nhiều chủ doanh nghiệp và các marketer nghĩ rằng, câu trả lời cho vấn đề này là liên tục đổi mới – tiếp tục phát triển những mặt hàng hiện tại, cũng với việc phát triển thêm sản phẩm mới, Họ cố gắng đem đến cho khách hàng nhiều giá trị hơn, nhờ đó luôn đảm bảo được sự phù hợp với thị trường.
Trong khi đó, thực tế cho thấy, sẽ luôn có những đối thủ cạnh tranh ngày càng hoàn thiện hơn, vì thế không đổi mới thì không có hiệu quả.
7 Cs đảm bảo sự phù hợp
Sự tương thích lâu dài sẽ giúp doanh nghiệp bền vững thật sự. Điều này đến từ một loạt các giá trị tạo ra sự sống cho doanh nghiệp. Giống như điều gì đó thuộc về bản chất, việc tìm kiếm sự tương thích phải được thực hiện cùng với các hoạt động kinh doanh hàng ngày.
Đây chính là điều quan trọng nhất mà các doanh nghiệp có thể làm, bởi vì sự phù hợp sẽ làm nổi bật thương hiệu của bạn trong hàng ngàn thương hiệu khác.
Nó cũng có thể đem đến điều gì đó mà các đối thủ cạnh tranh không thể chạm tới được, ngoại trừ giá. Điều gì đó đem đến khả năng nhận biết thương hiệu cao hơn.
Đây là 7 Cs đảm bảo cho thành công của bạn
1. Sự thuyết phục
Một sự thuyết phục về những giá trị đạo đức kinh doanh trong cốt lõi của doanh nghiệp, và một lời cam kết tuân thủ những giá trị này từ thương hiệu. Một hệ thống những giá trị được truyền tải một cách rõ ràng và được tuân thủ triệt để. Sự thuyết phục phải luôn gắn liền với mỗi quyết định của doanh nghiệp, trong hoạt động truyền thông và tất cả những hoạt động khác.
Không chỉ tạo ra sự thuyết phục đối với khách hàng, mà còn phải tạo ra sự thuyết phục đối với nhân viên của công ty. Cần đảm bảo rằng tất cả nhân viên của bạn hiểu rõ về công ty ở mọi khía cạnh, hãy để điều đó luôn trong đầu họ, và quan trọng phỉa làm sao để họ “làm điều đó xảy ra” – truyền tải những giá trị của công ty tới khách hàng.
Hãy nhớ rằng: Nhân viên là người đại diện cho công ty khi tiếp xúc với khách hàng. Xây dựng một đội ngũ nhân viên tốt là chìa khóa tạo xây dựng công việc kinh doanh thành công. Hãy ngừng suy nghĩ về nhân viên theo lối “nhân viên là một đơn vị cấu thành sản phẩm” và bắt đầu nghĩ về họ như người xây dựng thương hiệu.
2. Sự tận tâm
Dành thời gian và tìm hiểu những nhu cầu chính của khách hàng. Điều chỉnh những giá trị mà doanh nghiệp mang đến thị trường sao cho phù hợp với những điều khách hàng cần và phân phát chúng, và tìm hiểu những vấn đề chúng ta cần cải thiện – theo cách nhìn nhận của khách hàng, chứ không phải cách nhìn của chúng ta.
3. Truyền thông
Ngày nay, với tất cả những hiểu biết liên quan đến ý nghĩa của hoạt động truyền thông, thật đáng ngạc nhiên, khi thực tế cho thấy việc giao tiếp giữa khách hàng và doanh nghiệp là không có hoặc có nhưng lại đi ngược lại ý nghĩa của nó.
Có một khách hàng không hiểu rõ giá trị của một cuộc gọi hoặc email khi anh ta không hài lòng với việc giao hàng? Hoàn thành một dự án hay chỉnh sử nó? Hoặc nhận những thông tin cập nhật trong khi thực hiện một dự án dài hạn? Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong im lặng và xa rời thực tế, khi đó những nỗ lực truyền thông mạnh mẽ cho họ cơ hội củng cố mối quan hệ với khách hàng.
4. Chu đáo
Khi bạn cho khách hàng thấy được sự chân thật và chu đáo, đồng thời đem đến cho họ những lợi ích rõ ràng, một mối quan hệ tuyệt vời có thể được gây dựng. Trong khi các đối thủ cạnh tranh có thể đem đến cho khách hàng những sản phẩm hiện đại nhất, tuyệt vời nhất và những dịch vụ hoàn hảo, thì việc bạn thấu hiểu khách hàng và chăm sóc họ vẫn có khả năng thể khiến họ đến với bạn không chỉ một lần mà là nhiều lần sau đó.
Thu hút những ý kiến chân thật của khách hàng về công việc kinh doanh của bạn và học cách đón nhận những nhận xét tiêu cực như một lời khưn tặng. Đây là cơ hội tốt để bạn khắc phục những yếu kém và thúc đẩy mối quan hệ với khách hàng. Luôn nói lời cảm ơn với khách hàng, thể hiện sự biết ơn chân thành – mọi người thích được biết ơn và coi trọng.
5. Rõ ràng chân thật
Thương hiệu không chỉ nên chắc chắn mà còn luôn luôn chân thật. Thiếu sự chân thật và minh bạch làm ảnh hưởng đến sự tồn tải của nhiều tập đoàn, trong một vài trường hợp nó chính là nguyên nhân thật sự có hại và sự phá hoại toàn bộ đối với thương hiệu của doanh nghiệp – kết quả cuối củng là thiếu đi niềm tin của người tiêu dùng. Áp dụng câu nói của Shakespeare trong cuộc sống: “Điều mà con người sở hữu là sự thật”
6. Hòa nhập vào cộng đồng
Trở thành thành viên của một cộng đồng rộng lớn hơn. Doanh nghiệp có thể và nên tìm cho mình nhiều cách thức để trở thành một thành viên trong cộng đồng khách hàng, và có những đóng góp cho cộng đồng đó. Tìm cách duy trì những hoạt động tích cực, loại bỏ những hoạt động không có giá trị, dành thời gian và nguồn lực tài chính cho những nhân vật nổi bật, đáng kính trọng luôn là một là một ý tưởng hay.
Trở thành một phần trong cộng đồng rộng lớn, doanh nghiệp có thể và nên tìm kiếm con đường để trở thành thành viên trong cộng đồng của họ và để đóng góp. Tìm cách để bảo tồn nguồn lực sử dụng, cắt giảm lãng phí, dành tặng thời gian và nguồn lực tài chính cho những điều xứng đáng luôn là ý kiến tốt.
Bạn có thể trở thành chuyên gia cố vấn cho một đứa trẻ, hoặc giới trẻ nói chung, và chia sẽ những hiểu biết của bạn? Bạn có thể bắt đầu bằng một blog và duy trì mối quan hệ với khách hàng của bạn? Bạn có thể nhận được những điều tuyệt vời trong khi nói chuyện với những người bạn, đặc biệt khi bạn thực hiện các cuộc nói chuyện thật chân thật và chân thành.
Nếu doanh nghiệp của bạn có thể len lỏi vào cơ cấu và văn hóa của cộng đồng, nó sẽ thành công.
7. Đảm bảo sự phù hợp với những thay đổi văn hóa
Rất nhiều chủ doanh nghiệp nghĩ rằng nếu công việc kinh doanh không phát triển hoặc suy giảm thì hoạt động quảng cáo, xúc tiến cần được đẩy mạnh. Nhưng điều đó có chắc chắn không? Bạn đang đánh một công việc kinh doanh của mình vào tay đối thủ cạnh tranh, bởi vì bạn thực hiện không đầy đủ các hoạt động marketing, hoặc là bạn không lắm bắt được bản chất của một nền văn hóa đang thay đổi nhanh chóng?
Ví dụ, bạn sở hữu cửa hàng bánh sandwich, bạn đang từng bước đem đến cho khách hàng những lựa chọn tốt cho sức khỏe của họ? Họ đang tìm kiếm những lựa chọn như là có ít muối, ít béo, ít cholesterol hơn. Bạn có đem đến cho khách hàng những sản phẩm mà họ đang tìm kiếm không? Bạn đang cung cấp cho họ những lựa chọn mới hơn liên quan đến sandwiches và salads như có thể?
Tất cả những nổ lực marketing trên thế giới đều sẽ sụp đổ trừ phi doanh nghiệp có được sự phù hợp với văn hóa của người tiêu dùng.
Thiết lập giá trị cho doanh nghiệp của bạn, kế đến liên kết chúng lại. Cam kết với nhân viên của bạn nhiều như bạn cam kết với khách hàng. Tiếp tục đảm bảo sự phù hợp của công việc kinh doanh với nhu cầu khách hàng và thắt chặt mối quan hệ đó bằng việc duy trì khả năng giao tiếp tốt và thấu hiểu họ. Chân thành, minh bạch trong bất cứ chuyện gì và trở thành thành viên năng động trong một cộng đồng rộng lớn.
Làm những việc đó, doanh nghiệp của bạn sẽ thành công.
Claire Ratushny (Nhứt Linh – Công ty thương hiệu LANTABRAND – sưu tầm và lược dịch từ marketingprofs.com)
Kết quả: Làm sao để marketing hiệu quả, những thay đổi khiến khả năng nắm bắt tâm lý người tiêu dùng trở lên khó khăn hơn trước. Hiện tại, marketer cần nhiều kỹ năng hơn để marketing thành công. Và tất nhiên nó yêu cầu nhiều hơn một chiến lược ngắn hạn hoặc một vài phương thức marketing.
Đó là sự phù hợp
Nhiều chủ doanh nghiệp và các marketer nghĩ rằng, câu trả lời cho vấn đề này là liên tục đổi mới – tiếp tục phát triển những mặt hàng hiện tại, cũng với việc phát triển thêm sản phẩm mới, Họ cố gắng đem đến cho khách hàng nhiều giá trị hơn, nhờ đó luôn đảm bảo được sự phù hợp với thị trường.
Trong khi đó, thực tế cho thấy, sẽ luôn có những đối thủ cạnh tranh ngày càng hoàn thiện hơn, vì thế không đổi mới thì không có hiệu quả.
7 Cs đảm bảo sự phù hợp
Sự tương thích lâu dài sẽ giúp doanh nghiệp bền vững thật sự. Điều này đến từ một loạt các giá trị tạo ra sự sống cho doanh nghiệp. Giống như điều gì đó thuộc về bản chất, việc tìm kiếm sự tương thích phải được thực hiện cùng với các hoạt động kinh doanh hàng ngày.
Đây chính là điều quan trọng nhất mà các doanh nghiệp có thể làm, bởi vì sự phù hợp sẽ làm nổi bật thương hiệu của bạn trong hàng ngàn thương hiệu khác.
Nó cũng có thể đem đến điều gì đó mà các đối thủ cạnh tranh không thể chạm tới được, ngoại trừ giá. Điều gì đó đem đến khả năng nhận biết thương hiệu cao hơn.
Đây là 7 Cs đảm bảo cho thành công của bạn
1. Sự thuyết phục
Một sự thuyết phục về những giá trị đạo đức kinh doanh trong cốt lõi của doanh nghiệp, và một lời cam kết tuân thủ những giá trị này từ thương hiệu. Một hệ thống những giá trị được truyền tải một cách rõ ràng và được tuân thủ triệt để. Sự thuyết phục phải luôn gắn liền với mỗi quyết định của doanh nghiệp, trong hoạt động truyền thông và tất cả những hoạt động khác.
Không chỉ tạo ra sự thuyết phục đối với khách hàng, mà còn phải tạo ra sự thuyết phục đối với nhân viên của công ty. Cần đảm bảo rằng tất cả nhân viên của bạn hiểu rõ về công ty ở mọi khía cạnh, hãy để điều đó luôn trong đầu họ, và quan trọng phỉa làm sao để họ “làm điều đó xảy ra” – truyền tải những giá trị của công ty tới khách hàng.
Hãy nhớ rằng: Nhân viên là người đại diện cho công ty khi tiếp xúc với khách hàng. Xây dựng một đội ngũ nhân viên tốt là chìa khóa tạo xây dựng công việc kinh doanh thành công. Hãy ngừng suy nghĩ về nhân viên theo lối “nhân viên là một đơn vị cấu thành sản phẩm” và bắt đầu nghĩ về họ như người xây dựng thương hiệu.
2. Sự tận tâm
Dành thời gian và tìm hiểu những nhu cầu chính của khách hàng. Điều chỉnh những giá trị mà doanh nghiệp mang đến thị trường sao cho phù hợp với những điều khách hàng cần và phân phát chúng, và tìm hiểu những vấn đề chúng ta cần cải thiện – theo cách nhìn nhận của khách hàng, chứ không phải cách nhìn của chúng ta.
3. Truyền thông
Ngày nay, với tất cả những hiểu biết liên quan đến ý nghĩa của hoạt động truyền thông, thật đáng ngạc nhiên, khi thực tế cho thấy việc giao tiếp giữa khách hàng và doanh nghiệp là không có hoặc có nhưng lại đi ngược lại ý nghĩa của nó.
Có một khách hàng không hiểu rõ giá trị của một cuộc gọi hoặc email khi anh ta không hài lòng với việc giao hàng? Hoàn thành một dự án hay chỉnh sử nó? Hoặc nhận những thông tin cập nhật trong khi thực hiện một dự án dài hạn? Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong im lặng và xa rời thực tế, khi đó những nỗ lực truyền thông mạnh mẽ cho họ cơ hội củng cố mối quan hệ với khách hàng.
4. Chu đáo
Khi bạn cho khách hàng thấy được sự chân thật và chu đáo, đồng thời đem đến cho họ những lợi ích rõ ràng, một mối quan hệ tuyệt vời có thể được gây dựng. Trong khi các đối thủ cạnh tranh có thể đem đến cho khách hàng những sản phẩm hiện đại nhất, tuyệt vời nhất và những dịch vụ hoàn hảo, thì việc bạn thấu hiểu khách hàng và chăm sóc họ vẫn có khả năng thể khiến họ đến với bạn không chỉ một lần mà là nhiều lần sau đó.
Thu hút những ý kiến chân thật của khách hàng về công việc kinh doanh của bạn và học cách đón nhận những nhận xét tiêu cực như một lời khưn tặng. Đây là cơ hội tốt để bạn khắc phục những yếu kém và thúc đẩy mối quan hệ với khách hàng. Luôn nói lời cảm ơn với khách hàng, thể hiện sự biết ơn chân thành – mọi người thích được biết ơn và coi trọng.
5. Rõ ràng chân thật
Thương hiệu không chỉ nên chắc chắn mà còn luôn luôn chân thật. Thiếu sự chân thật và minh bạch làm ảnh hưởng đến sự tồn tải của nhiều tập đoàn, trong một vài trường hợp nó chính là nguyên nhân thật sự có hại và sự phá hoại toàn bộ đối với thương hiệu của doanh nghiệp – kết quả cuối củng là thiếu đi niềm tin của người tiêu dùng. Áp dụng câu nói của Shakespeare trong cuộc sống: “Điều mà con người sở hữu là sự thật”
6. Hòa nhập vào cộng đồng
Trở thành thành viên của một cộng đồng rộng lớn hơn. Doanh nghiệp có thể và nên tìm cho mình nhiều cách thức để trở thành một thành viên trong cộng đồng khách hàng, và có những đóng góp cho cộng đồng đó. Tìm cách duy trì những hoạt động tích cực, loại bỏ những hoạt động không có giá trị, dành thời gian và nguồn lực tài chính cho những nhân vật nổi bật, đáng kính trọng luôn là một là một ý tưởng hay.
Trở thành một phần trong cộng đồng rộng lớn, doanh nghiệp có thể và nên tìm kiếm con đường để trở thành thành viên trong cộng đồng của họ và để đóng góp. Tìm cách để bảo tồn nguồn lực sử dụng, cắt giảm lãng phí, dành tặng thời gian và nguồn lực tài chính cho những điều xứng đáng luôn là ý kiến tốt.
Bạn có thể trở thành chuyên gia cố vấn cho một đứa trẻ, hoặc giới trẻ nói chung, và chia sẽ những hiểu biết của bạn? Bạn có thể bắt đầu bằng một blog và duy trì mối quan hệ với khách hàng của bạn? Bạn có thể nhận được những điều tuyệt vời trong khi nói chuyện với những người bạn, đặc biệt khi bạn thực hiện các cuộc nói chuyện thật chân thật và chân thành.
Nếu doanh nghiệp của bạn có thể len lỏi vào cơ cấu và văn hóa của cộng đồng, nó sẽ thành công.
7. Đảm bảo sự phù hợp với những thay đổi văn hóa
Rất nhiều chủ doanh nghiệp nghĩ rằng nếu công việc kinh doanh không phát triển hoặc suy giảm thì hoạt động quảng cáo, xúc tiến cần được đẩy mạnh. Nhưng điều đó có chắc chắn không? Bạn đang đánh một công việc kinh doanh của mình vào tay đối thủ cạnh tranh, bởi vì bạn thực hiện không đầy đủ các hoạt động marketing, hoặc là bạn không lắm bắt được bản chất của một nền văn hóa đang thay đổi nhanh chóng?
Ví dụ, bạn sở hữu cửa hàng bánh sandwich, bạn đang từng bước đem đến cho khách hàng những lựa chọn tốt cho sức khỏe của họ? Họ đang tìm kiếm những lựa chọn như là có ít muối, ít béo, ít cholesterol hơn. Bạn có đem đến cho khách hàng những sản phẩm mà họ đang tìm kiếm không? Bạn đang cung cấp cho họ những lựa chọn mới hơn liên quan đến sandwiches và salads như có thể?
Tất cả những nổ lực marketing trên thế giới đều sẽ sụp đổ trừ phi doanh nghiệp có được sự phù hợp với văn hóa của người tiêu dùng.
Thiết lập giá trị cho doanh nghiệp của bạn, kế đến liên kết chúng lại. Cam kết với nhân viên của bạn nhiều như bạn cam kết với khách hàng. Tiếp tục đảm bảo sự phù hợp của công việc kinh doanh với nhu cầu khách hàng và thắt chặt mối quan hệ đó bằng việc duy trì khả năng giao tiếp tốt và thấu hiểu họ. Chân thành, minh bạch trong bất cứ chuyện gì và trở thành thành viên năng động trong một cộng đồng rộng lớn.
Làm những việc đó, doanh nghiệp của bạn sẽ thành công.
Claire Ratushny (Nhứt Linh – Công ty thương hiệu LANTABRAND – sưu tầm và lược dịch từ marketingprofs.com)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)