I.Mục đích:
Những di sản văn hóa Việt Nam (bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể) là những giá trị quí báu hiện đang hoặc có nguy cơ biến mất, trong đó nguyên nhân chính là sự thiếu hiểu biết và thiếu ý thức trân trọng, giữ gìn của con người.
Mục đích của dự án:
- Thông qua kênh truyền thông dưới nhiều hình thức nhằm tác động vào nhận thức và ý thức của toàn xã hội về các di sản văn hóa truyền thống. Qua đó giúp mọi người hiểu biết, trân trọng, nâng cao ý thức tự hào và gìn giữ các di sản văn hóa.
- Tìm kiếm và đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại.
II.Nội dung dự án:
* Xây dựng mỗi năm một chủ đề để tập trung tuyên truyền, trong đó chủ yếu nhấn mạnh đến những giá trị đang nằm trong diện “báo động đỏ” :
2008: Những báu vật nhân văn sống Việt Nam (về những nhân vật là hiện thân cho những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của người Việt)
2009: Những di sản kiến trúc truyền thống giá trị
2010: Văn hóa những tộc người có nguy cơ biến mất trong cộng đồng văn hóa Việt Nam
* Nội dung của dự án: gồm 4 hoạt động chính:
1.Xây dựng một chuyên mục cố định trên 2 tờ báo: Thể thao & Văn hóa Cuối tuần (tiếng Việt), Vietnam News Sunday (tiếng Anh) với tên gọi: Báo động từ vốn di sản
Chuyên mục này mỗi tháng xuất hiện 2 lần, với dung lượng 2 trang A4 (Thể thao & Văn hóa Cuối tuần) và 1 trang A3 (Vietnam News) gồm bài viết+ hình ảnh dạng phóng sự về chủ đề.
2.Tổ chức 1 hội thảo khoa học về chủ đề của năm. Hội thảo tổ chức tại Hà Nội, có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa, báo chí và các đối tượng có liên quan.
Mục đích của hội thảo : Đánh giá nguy cơ mai một của các di sản, tìm kiếm những giải pháp thiết thực và khả thi nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, chọn ra 02 di sản có nguy cơ biến mất cao và giải pháp khả thi để xây dựng dự án thực hiện với thời gian thực hiện tối đa 6 tháng. Ban cố vấn dự án và Ban tổ chức sẽ quyết định việc lựa chọn này. Việc thực hiện dự án và kết quả dự án sẽ được thông tin cập nhật trên TT&VH và Vietnam News.
3.Kết thúc loạt bài trong năm sẽ in và phát hành 1 cuốn sách (tập hợp các bài viết đã đăng, mở rộng các tư liệu và hình ảnh).
4.Kết thúc dự án năm bằng một sự kiện mang tính cộng đồng cao:
+ Trình diễn
+ Triển lãm
III.Dự án 2008 - Những báu vật nhân văn sống
1.Thời gian thực hiện: từ tháng 11/2008 đến hết tháng 11/2009
- Mở chuyên mục Báo động từ vốn di sản trên báo Thể thao & Văn hóa Cuối tuần và Vietnam News: từ tháng 11/2008 đến hết tháng 11/2009. Đăng tải liên tục các phóng sự về di sản văn hóa theo chủ đề
- Hội thảo: tháng 9/2009
2.Ban chỉ đạo
-Ông Trần Mai Hưởng, Phó TGĐ điều hành TTXVN, TBT Vietnam News
-Ông Ngô Hà Thái, TBT báo Thể thao & Văn hóa
-Bà Kim Hoa, Thư ký tòa soạn báo Thể thao & Văn hóa
3.Ban cố vấn:
- GS.TSKH Tô Ngọc Thanh
- Đặng Hoành Loan
- Nhà văn Nguyên Ngọc
(Danh sách này còn tiếp tục được cập nhật)
Hiển thị các bài đăng có nhãn MEDIA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MEDIA. Hiển thị tất cả bài đăng
9/1/09
Dự báo thị trường lao động năm 2009: Dược phẩm, truyền thông, tiếp thị “lên ngôi”
Thị trường lao động tiếp tục thiếu hụt đội ngũ quản lý
Ngày 9-11, tại TPHCM, Công ty Tư vấn Nguồn nhân lực Nhân Việt tổ chức hội thảo nghề nghiệp khối ngành dược dành cho gần 1.000 sinh viên. Tại hội thảo, nguồn nhân lực của ngành dược được đặt ra và được các nhà tuyển dụng dự báo sẽ thiếu hụt trong thời gian tới.
Ngành y tế cần 110.000 lao động
Bà Châu Thị Bé, Phó Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Nguồn nhân lực Nhân Việt, cho biết mỗi năm có khoảng 12.000 nhân viên y tế về hưu. Ước tính, từ nay đến năm 2010, nhu cầu nhân lực trong ngành y tế của cả nước là 110.000 người. Cũng theo bà Bé, trung bình mỗi năm, mỗi công ty trong ngành dược sẽ tuyển từ 40-80 lao động, chủ yếu là sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đại học để đảm nhận những công việc như trình dược viên, nhân viên trong các công ty dược, bệnh viện và sở y tế các tỉnh, thành.
Sự thiếu hụt nhân lực trong ngành đã khiến các doanh nghiệp lớn như GlaxoSmithKline, About, Bayer Pharma Việt Nam... đưa ra chính sách thu hút nguồn nhân lực trong tương lai. Tại Công ty GlaxoSmithKline, trong năm 2009, sẽ cần từ 30- 40 vị trí cho các chức danh: nhân viên phụ trách đăng ký nhóm sản phẩm, chuyên viên tư vấn y khoa, nhân viên giám sát nghiên cứu thí nghiệm lâm sàng, nhân viên tư vấn dược an toàn... Bà Lê Thị Mai Lan, Trưởng Phòng Đào tạo Công ty GlaxoSmithKline, cho biết để hút nhân sự, công ty luôn có chính sách đào tạo dành cho nhân viên thông qua chương trình đào tạo thạc sĩ, học Anh văn trên mạng... Đặc biệt, công ty còn có chương trình “Hành trình lãnh đạo tiềm năng”. Thông qua chương trình này, những ứng viên trẻ có cơ hội được học hỏi kỹ năng làm lãnh đạo thông qua quá trình thực tập, làm việc tại doanh nghiệp.
Truyền thông, media khan hiếm nhân lực
“Nếu như các ngành tài chính, công nghệ thông tin, dịch vụ, xây dựng, du lịch... đang đứng trước nguy cơ bị cắt giảm lao động thì các ngành truyền thông, media sẽ tăng do có nhiều công ty trong lĩnh vực này ra đời. Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp đẩy mạnh truyền thông, quảng cáo cũng khiến cho ngành này khan hiếm nhân lực” – bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Nguồn nhân lực L&A, nhận định.
Theo Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, hiện nay cả nước có hơn 6.000 công ty quảng cáo, trong đó TPHCM là 3.000 công ty. Ông Trần Hoàng, đại diện Hiệp hội Quảng cáo châu Á tại Việt Nam, Chủ tịch Vietnam Marcom, cho rằng: Sự xuất hiện hàng loạt doanh nghiệp truyền thông khiến cho nhân lực ở lĩnh vực này vốn chưa được đào tạo bài bản luôn trong tình trạng cung không đủ cầu. Hiện các vị trí như copywriter, giám đốc sáng tạo, nhân viên quan hệ cộng đồng... luôn được các công ty săn với mức lương cao cùng nhiều chính sách đãi ngộ.
Theo ghi nhận, hiện nay, lao động trong lĩnh vực quảng cáo có mức lương khá cao, dao động từ 500 đến 1.000 USD/tháng đối với công ty trong nước và 3.000- 5.000 USD/tháng đối với công ty nước ngoài.
Bán hàng, marketing: Tiếp tục nóng
“Trong năm 2009, lĩnh vực marketing, bán hàng sẽ tiếp tục là ngành nóng” - bà Tiêu Yến Trinh, Tổng Giám đốc Talentnet Corporation, nhận định. Lý giải cho nhận định của mình, bà Trinh cho rằng ở bất kỳ lĩnh vực nào, doanh nghiệp cũng cần đội ngũ bán hàng, tiếp thị. Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, lại càng cần đến đội ngũ này hơn. Đó cũng là lý do khiến nhân lực của ngành trong những năm qua vốn thiếu hụt nhân lực sẽ tiếp tục nóng trong thời gian tới.
Ghi nhận từ thông số trực tuyến của Vietnamworks.com cho thấy bán hàng, tiếp thị là một trong 6 ngành có cầu nhân lực cao nhất, trở thành ngành “nóng” hiện nay. Ông Trần Hoàng, Chủ tịch Vietnam Marcom, cho rằng với lượng doanh nghiệp như hiện nay, nhu cầu tuyển dụng đội ngũ marketing sẽ lên đến gần 500.000 lao động. “Tuy nhiên, để làm được công việc này, ứng viên phải sáng tạo không ngừng. Đặc biệt, ngoài kiến thức và kỹ năng thì sự dấn thân là yếu tố giúp các bạn trẻ thành công”.
Ngày 9-11, tại TPHCM, Công ty Tư vấn Nguồn nhân lực Nhân Việt tổ chức hội thảo nghề nghiệp khối ngành dược dành cho gần 1.000 sinh viên. Tại hội thảo, nguồn nhân lực của ngành dược được đặt ra và được các nhà tuyển dụng dự báo sẽ thiếu hụt trong thời gian tới.
Ngành y tế cần 110.000 lao động
Bà Châu Thị Bé, Phó Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Nguồn nhân lực Nhân Việt, cho biết mỗi năm có khoảng 12.000 nhân viên y tế về hưu. Ước tính, từ nay đến năm 2010, nhu cầu nhân lực trong ngành y tế của cả nước là 110.000 người. Cũng theo bà Bé, trung bình mỗi năm, mỗi công ty trong ngành dược sẽ tuyển từ 40-80 lao động, chủ yếu là sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đại học để đảm nhận những công việc như trình dược viên, nhân viên trong các công ty dược, bệnh viện và sở y tế các tỉnh, thành.
Sự thiếu hụt nhân lực trong ngành đã khiến các doanh nghiệp lớn như GlaxoSmithKline, About, Bayer Pharma Việt Nam... đưa ra chính sách thu hút nguồn nhân lực trong tương lai. Tại Công ty GlaxoSmithKline, trong năm 2009, sẽ cần từ 30- 40 vị trí cho các chức danh: nhân viên phụ trách đăng ký nhóm sản phẩm, chuyên viên tư vấn y khoa, nhân viên giám sát nghiên cứu thí nghiệm lâm sàng, nhân viên tư vấn dược an toàn... Bà Lê Thị Mai Lan, Trưởng Phòng Đào tạo Công ty GlaxoSmithKline, cho biết để hút nhân sự, công ty luôn có chính sách đào tạo dành cho nhân viên thông qua chương trình đào tạo thạc sĩ, học Anh văn trên mạng... Đặc biệt, công ty còn có chương trình “Hành trình lãnh đạo tiềm năng”. Thông qua chương trình này, những ứng viên trẻ có cơ hội được học hỏi kỹ năng làm lãnh đạo thông qua quá trình thực tập, làm việc tại doanh nghiệp.
Truyền thông, media khan hiếm nhân lực
“Nếu như các ngành tài chính, công nghệ thông tin, dịch vụ, xây dựng, du lịch... đang đứng trước nguy cơ bị cắt giảm lao động thì các ngành truyền thông, media sẽ tăng do có nhiều công ty trong lĩnh vực này ra đời. Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp đẩy mạnh truyền thông, quảng cáo cũng khiến cho ngành này khan hiếm nhân lực” – bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Nguồn nhân lực L&A, nhận định.
Theo Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, hiện nay cả nước có hơn 6.000 công ty quảng cáo, trong đó TPHCM là 3.000 công ty. Ông Trần Hoàng, đại diện Hiệp hội Quảng cáo châu Á tại Việt Nam, Chủ tịch Vietnam Marcom, cho rằng: Sự xuất hiện hàng loạt doanh nghiệp truyền thông khiến cho nhân lực ở lĩnh vực này vốn chưa được đào tạo bài bản luôn trong tình trạng cung không đủ cầu. Hiện các vị trí như copywriter, giám đốc sáng tạo, nhân viên quan hệ cộng đồng... luôn được các công ty săn với mức lương cao cùng nhiều chính sách đãi ngộ.
Theo ghi nhận, hiện nay, lao động trong lĩnh vực quảng cáo có mức lương khá cao, dao động từ 500 đến 1.000 USD/tháng đối với công ty trong nước và 3.000- 5.000 USD/tháng đối với công ty nước ngoài.
Bán hàng, marketing: Tiếp tục nóng
“Trong năm 2009, lĩnh vực marketing, bán hàng sẽ tiếp tục là ngành nóng” - bà Tiêu Yến Trinh, Tổng Giám đốc Talentnet Corporation, nhận định. Lý giải cho nhận định của mình, bà Trinh cho rằng ở bất kỳ lĩnh vực nào, doanh nghiệp cũng cần đội ngũ bán hàng, tiếp thị. Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, lại càng cần đến đội ngũ này hơn. Đó cũng là lý do khiến nhân lực của ngành trong những năm qua vốn thiếu hụt nhân lực sẽ tiếp tục nóng trong thời gian tới.
Ghi nhận từ thông số trực tuyến của Vietnamworks.com cho thấy bán hàng, tiếp thị là một trong 6 ngành có cầu nhân lực cao nhất, trở thành ngành “nóng” hiện nay. Ông Trần Hoàng, Chủ tịch Vietnam Marcom, cho rằng với lượng doanh nghiệp như hiện nay, nhu cầu tuyển dụng đội ngũ marketing sẽ lên đến gần 500.000 lao động. “Tuy nhiên, để làm được công việc này, ứng viên phải sáng tạo không ngừng. Đặc biệt, ngoài kiến thức và kỹ năng thì sự dấn thân là yếu tố giúp các bạn trẻ thành công”.
Dự báo xu thế thị hiếu thị trường truyền thông thế giới
Trước nhu cầu cấp thiết của thị trường dịch vụ truyền thông, Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam và trường Đại học Hoa Sen vừa phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế “Thống kê, khảo sát thị hiếu người tiêu dùng sản phẩm truyền thông: Thị trường và Công nghệ” tại L’Espace- Trung tâm VH Pháp-24, Tràng Tiền, HN
Thị trường truyền thông Việt Nam đang đứng trước sự thay đổi của các xu thế truyền thông thế giới. Các loại hình truyền thống như: Báo giấy, Phát thanh, Quảng cáo trực quan, Tổ chức sự kiện… sẽ dần thu hẹp về quy mô, nhường chỗ cho những phương tiện truyền thông mới như: Truyền hình, Công nghệ online, Mobile, Internet…
Theo phân tích của các chuyên gia, trong vòng 5-10 năm tới, lĩnh vực truyền thông chính yếu sẽ thiên về tích hợp viễn thông - truyền thông và công nghệ cao.
Nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng sản phẩm truyền thông là một trong những vấn đề được giới Truyền thông và toàn xã hội quan tâm. Những số liệu khách quan, chính xác về thị hiếu, sự lựa chọn của người sử dụng dịch vụ sẽ giúp cho các đơn vị hoạt động truyền thông, truyền hình, phát thanh, dịch vụ mạng… có những định hướng phát triển đúng đắn, đồng thời mở ra nhiều khả năng xã hội hóa hoạt động của mình. Nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng cũng có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, các tập đoàn, doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các dịch vụ truyền thông để quảng bá thương hiệu, sản phẩm với công chúng...
Hội thảo cũng là dịp trao đổi, giao lưu, gặp gỡ giữa các cơ quan truyền thông với các nhà đầu tư, các đối tác quan tâm đến lĩnh vực thống kê, khảo sát thị hiếu khán thính giả sử dụng dịch vụ truyền thông tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.
Tuyết Minh
Thị trường truyền thông Việt Nam đang đứng trước sự thay đổi của các xu thế truyền thông thế giới. Các loại hình truyền thống như: Báo giấy, Phát thanh, Quảng cáo trực quan, Tổ chức sự kiện… sẽ dần thu hẹp về quy mô, nhường chỗ cho những phương tiện truyền thông mới như: Truyền hình, Công nghệ online, Mobile, Internet…
Theo phân tích của các chuyên gia, trong vòng 5-10 năm tới, lĩnh vực truyền thông chính yếu sẽ thiên về tích hợp viễn thông - truyền thông và công nghệ cao.
Nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng sản phẩm truyền thông là một trong những vấn đề được giới Truyền thông và toàn xã hội quan tâm. Những số liệu khách quan, chính xác về thị hiếu, sự lựa chọn của người sử dụng dịch vụ sẽ giúp cho các đơn vị hoạt động truyền thông, truyền hình, phát thanh, dịch vụ mạng… có những định hướng phát triển đúng đắn, đồng thời mở ra nhiều khả năng xã hội hóa hoạt động của mình. Nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng cũng có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, các tập đoàn, doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các dịch vụ truyền thông để quảng bá thương hiệu, sản phẩm với công chúng...
Hội thảo cũng là dịp trao đổi, giao lưu, gặp gỡ giữa các cơ quan truyền thông với các nhà đầu tư, các đối tác quan tâm đến lĩnh vực thống kê, khảo sát thị hiếu khán thính giả sử dụng dịch vụ truyền thông tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.
Tuyết Minh
Người Mỹ phàn nàn về chất lượng truyền hình
Sau báo in, nay đến truyền hình bị công chúng phàn nàn. Dù nguyên nhân là do bản thân truyền hình hay do yêu cầu người xem quá cao thì truyền thồng Mỹ cũng đang đứng trước tình hình rất khó khăn.
Số lượng nhiều, chất lượng... liều!
Bạn đã bao giờ bật TV mà bối rối không biết chọn kênh nào để xem? Chắc chắn là có. Tuy nhiên số lượng nhiều các sự lựa chọn không có nghĩa là chất lượng của các chương trình truyền hình nào cũng tốt như nhau. Người xem dường như có xu hướng trung thành với các chưong trình truyền hình truyền thống.
Theo kết quả của một cuộc khảo sát trên 1204 người diễn ra từ 24-26 tháng 8 do hãng Associated Press và kênh AOL tổ chức thì 62% người Mỹ phàn nàn rằng chất lượng các chương trình truyền hình ngày càng tồi tệ và chỉ có 22% trong số họ tỏ ý khen ngợi.
Cuộc thăm dò ý kiến này còn cho thấy càng nhiều tuổi người ta càng không thích xem TV nữa. Hơn ¾ các cụ ở độ tuổi 60 cho rằng TV bây giờ chỉ phục vụ giới trẻ thôi.
Bà Terie Wiliam, một bà mẹ của bốn đứa con đến từ vùng Richmond Park trả lời phóng viên với giọng buồn buồn: “Ngày xưa các chương trình TV không nhốn nháo như bây giờ. Tôi cảm thấy mình thực sự lạc lõng khi xem các chương trình đứa con gái mới 19 tuổi của tôi hay xem. Tôi cũng không hiểu vì sao các chương trình này toàn về tình dục. Tôi có cảm giác rằng TV làm xa cách khoảng cách giữa các thế hệ trong một gia đình”. Bà bồi hồi nhớ lại show “The Walton” trên truyền hình ngày xưa bà hay xem.
Ông Eugene King, 51 tuổi một kiến trúc sư từ Philadenphia cũng có ý kiến tương tự. Ông cho rằng kể cả những chương trình mà ông yêu thích như “This old house”, “Masterpiece Theater” những show truyền hình khá nổi tiếng ở Mỹ hay những chương trình khoa học cũng toàn đưa tin lá cải.
Đừng có nghĩ tivi là nhất!
Một chuyên gia chuyên nghiên cứu về sự phát triển của truyền hình Tim Brooks cho rằng trước kia khi công nghệ chưa thực sự phát triển, TV luôn được coi là sự lựa chọn số một của người xem vì vậy những người làm truyền hình luôn chú trọng đến việc đáp ứng đủ nhu cầu của họ.
Ngày nay, chính số lượng qua nhiều các kênh truyền hình dẫn đến chất lượng của chúng không đảm bảo. Hơn nữa, TV cũng giống như một người bạn thân luôn bên cạnh những người xem truyền hình. Họ sẽ có cảm giác vui, buồn hay thậm chí giận dỗi khi ở bên người ban tri kỷ này.
Những người cao tuổi “trách yêu” TV vì tuổi tác làm cho họ có cảm giác rằng TV không thực sự còn “hiểu” họ.
Giải thích như vậy không có nghĩa là các nhà làm truyền hình có thể lờ đi kết quả của cuộc khảo sát này nhất là trong thời đại có quá nhiều phương tiện giải trí khác để lựa chọn như hiện nay.
Thật bất ngờ với câu hỏi về chương trình truyền hình nào được yêu thích nhất chỉ có 7% số người được hỏi nêu được chính xác tên chương trình tuy nhiên 80% trong số họ đưa ra kết quả giống như cuộc khảo sát năm 2005 cũng do kênh truyền hình này tổ chức.
Một điều cần biết thêm là các chương trình truyền hình mới đang dần mờ nhạt trong tâm trí họ. Đài CBS là một kênh truyền hình đang có số lượng người xem khá cao ở Mỹ có lẽ sẽ đau đầu khi biết rằng 7% số người được phỏng vấn phàn nàn rằng chương trình “The survivor” của đài đáng bị cắt đi.
Ông Jeanie Peterson, 59 tuổi đến từ bang New Orleans thành thật nhận xét về chương trình này “Tôi thấy rùng mình khi xem nguươì ta ăn nhện”. Rõ ràng rằng ý tưởng làm chương trình “The survivor” là rất mới và độc đáo nhưng hình như các nhà làm truyền hình chưa quan tâm đến đối tượng người xem cũng như tâm tư tình cảm của họ.
Sau báo in, nay đến truyền hình bị công chúng phàn nàn. Dù nguyên nhân là do bản thân truyền hình hay do yêu cầu người xem quá cao thì truyền thồng Mỹ cũng đang đứng trước tình hình rất khó khăn. Con đường phía trước sẽ còn nhiều gian nan...
Hồng Nhung (theo AP)
Số lượng nhiều, chất lượng... liều!
Bạn đã bao giờ bật TV mà bối rối không biết chọn kênh nào để xem? Chắc chắn là có. Tuy nhiên số lượng nhiều các sự lựa chọn không có nghĩa là chất lượng của các chương trình truyền hình nào cũng tốt như nhau. Người xem dường như có xu hướng trung thành với các chưong trình truyền hình truyền thống.
Theo kết quả của một cuộc khảo sát trên 1204 người diễn ra từ 24-26 tháng 8 do hãng Associated Press và kênh AOL tổ chức thì 62% người Mỹ phàn nàn rằng chất lượng các chương trình truyền hình ngày càng tồi tệ và chỉ có 22% trong số họ tỏ ý khen ngợi.
Cuộc thăm dò ý kiến này còn cho thấy càng nhiều tuổi người ta càng không thích xem TV nữa. Hơn ¾ các cụ ở độ tuổi 60 cho rằng TV bây giờ chỉ phục vụ giới trẻ thôi.
Bà Terie Wiliam, một bà mẹ của bốn đứa con đến từ vùng Richmond Park trả lời phóng viên với giọng buồn buồn: “Ngày xưa các chương trình TV không nhốn nháo như bây giờ. Tôi cảm thấy mình thực sự lạc lõng khi xem các chương trình đứa con gái mới 19 tuổi của tôi hay xem. Tôi cũng không hiểu vì sao các chương trình này toàn về tình dục. Tôi có cảm giác rằng TV làm xa cách khoảng cách giữa các thế hệ trong một gia đình”. Bà bồi hồi nhớ lại show “The Walton” trên truyền hình ngày xưa bà hay xem.
Ông Eugene King, 51 tuổi một kiến trúc sư từ Philadenphia cũng có ý kiến tương tự. Ông cho rằng kể cả những chương trình mà ông yêu thích như “This old house”, “Masterpiece Theater” những show truyền hình khá nổi tiếng ở Mỹ hay những chương trình khoa học cũng toàn đưa tin lá cải.
Đừng có nghĩ tivi là nhất!
Một chuyên gia chuyên nghiên cứu về sự phát triển của truyền hình Tim Brooks cho rằng trước kia khi công nghệ chưa thực sự phát triển, TV luôn được coi là sự lựa chọn số một của người xem vì vậy những người làm truyền hình luôn chú trọng đến việc đáp ứng đủ nhu cầu của họ.
Ngày nay, chính số lượng qua nhiều các kênh truyền hình dẫn đến chất lượng của chúng không đảm bảo. Hơn nữa, TV cũng giống như một người bạn thân luôn bên cạnh những người xem truyền hình. Họ sẽ có cảm giác vui, buồn hay thậm chí giận dỗi khi ở bên người ban tri kỷ này.
Những người cao tuổi “trách yêu” TV vì tuổi tác làm cho họ có cảm giác rằng TV không thực sự còn “hiểu” họ.
Giải thích như vậy không có nghĩa là các nhà làm truyền hình có thể lờ đi kết quả của cuộc khảo sát này nhất là trong thời đại có quá nhiều phương tiện giải trí khác để lựa chọn như hiện nay.
Thật bất ngờ với câu hỏi về chương trình truyền hình nào được yêu thích nhất chỉ có 7% số người được hỏi nêu được chính xác tên chương trình tuy nhiên 80% trong số họ đưa ra kết quả giống như cuộc khảo sát năm 2005 cũng do kênh truyền hình này tổ chức.
Một điều cần biết thêm là các chương trình truyền hình mới đang dần mờ nhạt trong tâm trí họ. Đài CBS là một kênh truyền hình đang có số lượng người xem khá cao ở Mỹ có lẽ sẽ đau đầu khi biết rằng 7% số người được phỏng vấn phàn nàn rằng chương trình “The survivor” của đài đáng bị cắt đi.
Ông Jeanie Peterson, 59 tuổi đến từ bang New Orleans thành thật nhận xét về chương trình này “Tôi thấy rùng mình khi xem nguươì ta ăn nhện”. Rõ ràng rằng ý tưởng làm chương trình “The survivor” là rất mới và độc đáo nhưng hình như các nhà làm truyền hình chưa quan tâm đến đối tượng người xem cũng như tâm tư tình cảm của họ.
Sau báo in, nay đến truyền hình bị công chúng phàn nàn. Dù nguyên nhân là do bản thân truyền hình hay do yêu cầu người xem quá cao thì truyền thồng Mỹ cũng đang đứng trước tình hình rất khó khăn. Con đường phía trước sẽ còn nhiều gian nan...
Hồng Nhung (theo AP)
Thông tin và truyền thông nước Mỹ

(Thông tin này cũ, có từ năm 2007, nhưng vẫn có giá trị, duyệt!)
Ở Mỹ hiện có tất cả 11.600 hệ thống truyền hình cáp đang hoạt động phục vụ khoảng 33.000 khu vực dân cư. Rất nhiều chương trình mới khác nhau theo ý thích của những nhóm nhỏ hoặc những ý thích đặc biệt cũng ra đời. Bạn đọc Lê Oanh tiếp tục chia sẻ với bạn đọc Tuần Việt Nam về lĩnh vực thông tin và truyền thông nước Mỹ - một trong những nội dung của cuốn sách "Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ" của nhà văn Mỹ nổi tiếng Doulas K.Spevenson. Mời bạn đọc tiếp tục theo dõi.
Khi nói về báo chi Mỹ, nhiều người bên ngoài nước Mỹ nghĩ đên một tờ báo nghiêm túc, số trang không nhiều, tờ Internationnal Herald Tribune (Diễn đàn người đưa tin quốc tê), được nêu trong danh sách báo hằng ngày của nhiều nhà lãnh đạo thế giới. Tuy nhiên, tờ Internationnal Herald Tribune không hoàn toàn là một tờ báo Mỹ. Có bán tại 164 nước, nó được biên tập tại Paris, và in đồng thời ở Paris, London, Zurich, Praha,Marseilles, Rome, Frankfurt, Hồng Công, Singapo, Tokyo, New York, và Miami.
Tờ báo là nơi tiêu thụ thông tin quốc tế, hầu hết những tin tức này lấy từ những tờ báo mẹ lớn hơn, tờ New York Time (Thời báo Mew York) và tờ The Washinhton Post (Bưu điện Washington). Thế nhưng nhiều người Mỹ chưa bao giờ nghe đến tờ báo này. Và ít người Mỹ đọc báo này khi họ đã có những báo hàng ngày dăng đầy đủ tin tức.
Năm 1992, hơn 10.000 loại báo xuất hiện ở khoảng 6.500 thành phố ở Mỹ. Hầu hết các báo hàng ngày đều được ra nhiều hoặc trình bày bóng đẹp vào các dịp lễ Noel, lễ Tạ ơn, hoặc vào Ngày Quốc khánh Mỹ 4/7. Trong số đó bao gồm cả 85 loại báo tiếng nước ngoài in bằng 34 thứ tiếng khác nhau. Mỗi ngày ở Mỹ bán trên 60 triệu tờ báo .
Tám trăm chín mươi số báo Chủ nhật thường lớn hơn các số ra ngày thường. Kỷ lục bán báo chủ nhật là tờ New York Time. Có một số báo chủ nhật năm 1965 dày 946 trang, nặng trên 7 pao, và giá 50 cent. Người Mỹ có truyền thống đọc báo chủ nhật, đối với một số người đây là hình thức thay cho việc đến nhà thờ. Các báo Chủ nhật có lượng phát hành trung bình 62 triệu bản. Cũng có hơn 7.000 loại báo được xuất bản hằng tuần, hằng nửa tuần, hoặc hàng tháng.
Hầu hết các báo hàng ngày đều là những loại có “chất lượng” chứ không phải “bình dân” (có nghĩa là không chất lượng). Trong số 20 tờ báo có chất lượng phát hành lớn nhất, chỉ có hai hoặc ba tờ thường chú ý đến tội phạm, tình dục và các vụ bê bối. Tờ báo có lượng phát hành lớn nhất , The Wall Street Journal (Tạp chí phố Wall) trên thưc tế là tờ báo rất nghiêm túc.
Người ta thường nói là không có “báo chí dân tộc” ở Mỹ cũng như ở Anh, nơi một vài tờ báo trội hơn hẳn về số lượng lưu hành và được cả nước đọc. Theo một nghĩa nào đó, điều này là đúng sự thực. Hầu hết các báo cáo hằng ngày được phân phối tại địa phương, hoặc trong khu vực, người ta mua một trong những tờ báo của thành phô lớn cộng thêm những tờ của địa phương nhỏ hơn. Một vài tờ trong số những báo nổi tiếng nhất như The Wall Street Jourall có thể có mặt trong toàn quốc.
Tuy nhiên, người ta không thể hy vọng tờ The Milwaukee Journal được tìm đọc ở Boston Globe được tìm đọc ở Houston. Chỉ có một tờ báo thực sự là báo của quốc gia, tờ USA Today (Nước Mỹ ngày nay). Nhưng tờ báo này vẫn chỉ có lượng lưu hành là 1,5 triệu bản và nó chỉ có thể cung cấp tin thuộc các môi quan tâm chung chung. Trong một đất nước mà tin tức và các sự kiện chính trị ở các bang , thành phố, và đại phương có ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến người đọc và vì thế thu hút họ, thì điều đó là không đủ.
Tuy nhiên, theo một nghĩa khác, xuất phát từ ảnh hưởng và việc chia sẻ tin tức, thì phải có một tờ báo quốc gia. Một số tờ báo lớn nhất đồng thời cũng là các hãng thu thập tin tức. Họ không chỉ in ấn báo chí mà còn thu thập và bán thông tin, tin đặc biệt, và ảnh cho hàng trăm tờ báo khác ở Mỹ và trên thế giới. Ba trong số các hãng dịch vụ tịn tức được biết đến nhiều hơn là The New York Time, The Washington Post, và The Los Angeles Time.
Một ví dụ được nhiều người biết đến, một câu chuyện của CIA để lộ ra được đăng ở tờ The New York Time cũng xuất hiện trên mặt báo của 400 tờ khác của Mỹ và được hàng trăm tờ báo nước ngoài khác lấy đăng. “Nhặt” đăng không hoàn toàn đúng. Các câu chuyện như thế đã được đăng ký bản quyền và các tờ báo khác phải trả tiền nếu muốn sử dụng.
Các tờ báo khác thường tránh phải trả tiền cho các thông tin như vậy bằng cách đưa tin câu chuyên này từ báo gốc và trích một cách gián tiếp (“Tờ Washington Post hôm nay đã đưa tin là …”). Vì có nhiều các báo khác đăng tin lấy từ các tờ báo và tạp chí chủ yếu của Mỹ như thế nên những tờ báo này có ảnh hưởng rất lớn, vượt ra ngoài các độc giả của họ trong toàn quốc và trên thế giới.
Hơn nữa, các tờ báo này và những tờ báo khác như The Christian Science Monitor (Người quan sát khoa học Thiên chúa giáo), The Baltimore Sun (Mặt trời Baltimore), The St. Louis Dispatch (Thông điệp St.Louis) hoặc The Milwaukee Journal thường được nhắc đến trong số những tờ báo hay trên thế giới. Trong một cuộc điều tra quốc tế rộng rãi về các hãng báo chí, tờ The New York Time được hầu hết mọi người đánh giá là “Nhật báo hàng đầu thế gới”.
Các nhà báo chuyên trách từng mục viết cho nhiều tờ báo khác nhau, các bài báo của họ được một hãng bán để tăng cùng một lúc trên nhiều tờ báo, cũng có ảnh hưởng tương tự. Những người chuyên viết xã luận và bình luận nghiêm túc cho các báo chủ yếu hàng ngày được đăng bài trên hàng trăm báo nhỏ hơn trong cả nước. Điều này giúp người đọc ở thị trấn nhỏ hàng ngày biết được quan điểm của một số nhà phân tích thời sự quốc tế và trong nước giỏi nhất. Nhiều tờ báo cũng sử dụng các nhà báo này như một cách để cân bằng quan điểm chính trị. Trên các trang đằng sau trang xã luận của các báo thường in song song bài của những nhà bình luận theo trường phái tự do và bảo thủ hàng đầu.
Những tranh biếm họa chính trị và xã luận cũng được khá nhiều tờ báo dùng. Những người vẽ tranh biếm họa chính trị nổi tiếng như Oliphant hoặc MacNelly được hầu hết người đọc Mỹ và nhiều tờ báo nước ngoài biết đến. Các bài báo hài hước và châm biếm cũng thường nổi tiếng trên thế giới.
Các cơ quan thông tấn
Các báo Mỹ lấy một lượng tin rất lớn từ những nguồn giống nhau, những nguồn này phục vụ khoảng nửa số dân trên thế giới, đó là hai hãng thông tấn Mỹ, AP và UPI. Hai hãng thông tấn quốc tế này là những hãng lớn nhất thế giới. Không giống như những hãng thông tấn khác, ví dụ hãng thông tấn của Pháp AFP, không hãng nào do nhà nước sở hữu, quản lý hoặc điều hành. AP là hãng lâu đời và lớn nhất thế giới (Thành lập năm 1884).
Hãng có phóng viên và thợ chụp ảnh làm việc tại 122 phòng thông tin trong nước và 56 văn phòng nước ngoài. Họ có khoảng 10.000 nơi đặt mua định kỳ, đó là các hãng tin tức, báo chí, cơ quan phát thanh truyền hình và các tổ chức khác trong 115 nước trả tiền để có và được sử dụng tin và ảnh của AP. UPI là hãng thông tấn lớn thứ hai, có 92 văn phòng trong nước và 81 văn phòng ngoài nước trên 90 nước khác.
Theo dự đoán, tổng cộng khoảng hai tỷ người trực tiếp hoặc gián tiếp có được thông tin thời sự phần lớn từ AP và UPI. Người ta cung cho rằng lý do giải thích tại sao dường như có quá nhiều tin về “Mỹ”trên thế giới là vì cả hai hãng thông tấn này đều có trụ sở chính ở Mỹ.
Một đặc điểm cơ bản của nền báo chí Mỹ là hầu hết các chủ biên và nhà báo đều tán thành một điều, tin tức cần được phân biệt thật rõ – càng rõ càng tốt – với quan điểm về những tin đó. Theo đạo đức báo chí và truyền thông, các phóng viên và chủ biên trẻ được dạy là mục ý kiến và quan điểm chính trị phải để ở trang ý kiến và xã luận. Tất nhiên, họ biết rằng việc chọn lựa tin tức để đưa lên báo có thể gây thiên lệch. Nhưng họ sẽ phải cố để tách biệt hai thể loại này.
Cũng còn có lý do kinh tế rất thuyết phục để tách tin tức và quan điểm. Vào cuối thế kỷ XIX, người ta đã phát hiện ra rằng nhiều độc giả tin tưởng vào mua báo khi tin tức không bị lái sang hướng này hoặc hướng khác. Ngày nay, thường khó phân biệt một tờ báo là Dân chủ hay Cộng hòa, tự do hay bảo thủ. Một ví dụ là hầu hết các báo đều thận trọng đưa tin không thiên lệch và tương đương nhau về các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử. Họ có thể ủng hộ người này hoặc người khác trên các trang xã luận, như năm này có thể là một ứng cử viên của Đảng Cộng hòa , năm sau lại là của Đảng Dân chủ.
Hãng AP va UPI có được uy tín và thành công trên thế giới là nhờ vào chính sách này. Chỉ bằng cách thận trọng hạn chế ở mức đưa tin – ai nói gì và cái gì xảy ra trên thực tế, xảy ra như thế nào, lúc nào và ở đâu – họ đã giành được sự tin cậy và vì thế tin tức của họ được sử dụng rộng rãi. Để bảo vệ danh tiếng khách quan của mình, cả AP và UPI đều thực hiện những luật lệ nghiêm ngặt. Những luật lệ này ngăn không để các báo thay đổi quá nhiều tin gốc của AP và UPI trong khi vẫn tuyên bố các hãng này là nguồn.
Ngoài việc bán thông tin, AP và UPI hàng ngày còn cung cấp hàng chục bức ảnh và tranh châm biếm chính trị cho những mục chính của các báo. Những bức ảnh này thể hiện những quan điểm khác nhau và biểu hiện mọi thái độ, từ ca ngợi đến chế nhạo. Những người đặt mua được tự do lựa chọn và cho in ấn những gì họ thấy phù hợp với mình nhất.
Tự do thông tin
Do ở Mỹ không có một hãng thông tấn chính thức hoặc của nhà nước nào nên cũng không có tờ báo chính thức hoặc của nhà nước nào cả. Không có sự kiểm duyệt của nhà nước, không có “quy định về bí mật quốc gia”, cũng như bất cứ luật nào nói, ví dụ như, hồ sơ của nhà nước phải giữ bí mật sau nhiều năm. Luật tự do thông tin cho phép tất cả mọi người (người Mỹ hay nước ngoài), kể cả phóng viên báo chí, lấy được thông tin mà nơi khác đơn giản là “không có”. Các tòa án và thẩm phán không thể cấm in một câu chuyện hay xất bản một tờ báo. Ai đó có thể kiện lên tòa sau đó, nhưng tất nhiên lúc ấy câu chuyện đã được đăng.
Các cố gắng của nhà nước giữ không để cho những người đã từng là nhân viên tình báo cho đăng các bí mật của họ đã từng hứa – không “kể toàn bộ câu chuyện”, trích nguyên lời của báo chí – luôn gặp phải thất bại. Một trong những ví dụ dược nhiều người biết đến nhất là khi tờ The New York Time và The Washington Post cho đăng cái gọi là “Tài liệu của Lầu năm góc”. Đây là những tài liệu mật liên quan đến chính sách quân sự của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Sau đó phía báo chí đã thắng Tòa án tối cao. Tòa án tuyên bố (1971): “Quyền của nhà nước kiểm duyệt báo chí được hủy bỏ để báo chí có thể duy trì mãi mãi sự tự do đối với sự kiểm duyệt nhà nước”.
Truyền thống của người Mỹ “bới móc những chuyện bê bối” – đào bới những chuyện bẩn thỉu và phơi bầy cho công chúng thấy – vẫn rất mạnh, và phóng sự điều tra vẫn là một phần lớn công việc của nhà báo. Đây là một lý do giải thích tại sao nhiều thanh niên Mỹ thích nghề báo chí, cho đó là một cách để tạo thay đổi trong xã hội. Tất cả những ai nổi tiếng, dù là chính trị gia, thẩm phán, cảnh sát, tướng tá, nhà kinh doanh hàng đầu, ngôi sao thể thao, hoặc những người hoạt động trong ngành điện ảnh và truyền hình đều là nhân vật được công chúng biết đến.
Rõ ràng, một số người Mỹ không hài lòng với truyền thống viết phóng sự điều tra này. Họ cho rằng thói quen này đã đi quá xa, đến mức làm người ta hiểu sai về đất nước này, đến mức hầu như không thể giữ cho cuộc sống cá nhân khỏi bị đụng chạm. Họ nói báo chí không phải và không nên là một phần của nhà nước.
Giới báo chí Mỹ là phản ứng lại bằng cách trích dẫn những bản quyền của họ được hiến pháp quy định và nhắc lại một cách tự hào những lời cao quý của Thomas Jefferson: “Tự so của chúng ta phụ thuộc vào tự do báo chí, và hạn chế tự do là đánh mất nó”. Giới báo chí cho rằng họ làm công việc phục vụ công chúng, một công việc cần thiết cho một chế độ dân chủ lành mạnh. Tất nhiên, họ cũng biết, cái kém phần cao quý hơn là khi một sự việc được che đậy bí mật thì lại được đưa lên những trang đầu để họ có thể bán được rất nhiều báo.
Tạp chí
Ở Mỹ có trên 11.000 tạp chí và ấn phẩm ra định kỳ. Hơn 4.000 ấn phẩm ra hàng tháng, khoảng 500 ấn phẩm ra hàng tuần. Các tạp chí này viết về mọi chủ đề và môi quan tâm, từ nghệ thuật và kiến trúc đến tennis, từ hàng không và làm vườn đến máy vi tính…
Trong các tạp chí tin tức hàng tuần, những tạp chí nổi tiếng nhất là Time (Thời đại), Newsweek (Tuần tin tức), và U.S.News and World Report (Tin Mỹ và thế giới), các tạp chí này đóng vai trò như một theer loại báo chí quốc gia. Chúng cũng có ảnh hưởng quốc tế khá lớn, lớn nhất là tạp chí Time. Tạp chí tin tức này hiện ra hàng tuần với hơn 200 số trong nước Mỹ, và trên 100 số ở nước ngoài. Trong bất kỳ trương hợp nào, không một ấn phẩm nào được nhiều người đọc trên thế giới như Time.
Có hai lý do giải thích tại sao Time lại có ảnh hưởng quốc tế đến như vậy. Thứ nhất, một số tạp chí tin tức khác được phỏng theo hình mẫu của Time, trong đó có các tạp chí tin tức hàng đầu ở Pháp, Đức, Italia. Thứ hai, Time cũng bán tin tức, tin dặc biệt, phỏng vấn, ảnh, đồ thị và sơ đồ cho các tạp chí khác trên khắp thế giới. Dođó, những chuyện đặc biệt được đăng ở Time lần đầu tiên đựơc nhiều ấn phẩm ở nhiều nước khác đăng lại.
Các tạp chí tin tức đều nhằm vào các độc giả trung niên và có học. Cũng có nhiều tạp chí định kỳ viết nhiều về các chủ đề nghiêm túc như giáo dục, chính trị và văn hóa. Tạp chí nổi tiếng nhất trong số đó là The Atlantic Monthly (Nguyệt san Đại Tây Dương), Harvard Educational Review (Tạp chí Giáo dục Harvard)…Những tạp chí được nhiều người đọc như thế cùng với hàng trăm tờ báo chuyên ngành đã tạo ra một diễn đàn rộng lớn và thực chất để thảo luận một cách nghiêm túc.
Rất nhiều bài báo lần đầu tiên xuất hiện trên những ấn phẩm này thường cũng lại được đăng trên khắp thế giới hoặc in thành sách. Với các ấn phẩm nghiêm túc như vậy thì trường tiêu thụ khá mạnh. Tạp chí National Geographic (Địa lý quốc gia) có lượng lưu hành bình quân 10 triệu bản, Consumer Report (Ý kiến người tiêu dùng) khoảng 3,8 triệu bản. Có trên 70 tạp chí ở Mỹ mỗi loại bán được trên 1 triệu bản cho một số, và một số lượng gần như tương tự các tạp chí bán trên 500.000 bản mỗi số.
Sách
Dù lo ngại việc thông tin điện tử có thể làm mất đi việc xuất bản sách, song sự thật lại có vẻ như ngược lại. Kể từ khi truyền hình ra đời, sách bán ra lại tăng lên đáng kể, vượt hơn nhiều so với mức tăng dân số. Và một cuộc điều tra quãng thời gian từ 1988 đến 1993 cho thấy sách bán ra tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ bán các chương trình TV, tạp chí, báo, đài hoặc phim. Trên thực tế, Mỹ dẫn đầu về số sách được đọc theo đầu người. Những cuốn sách này gồm từ những sách hiện bán chạy nhất hoặc sách tiểu sử cho đến sách về các sự kiện lịch sử, về làm vườn và nấu ăn hoặc sách về kỹ thuật và bách khoa toàn thư.
Đã có một số lý do được đưa ra để giải thích thực tế này. Trước hết, trường học ở Mỹ có truyền thống chú trọng và cố gắng tạo “lòng ham mê đọc sách”, khiến cho nó trở thành một thói quen. Sự quan tâm về giáo dục này đã thành công. người ta có thể nhận thấy có nhiều người đọc sách như thế nào, họ không chỉ đọc tạp chí hay báo, trên các xe buýt trên thành phố, sân bay, trong giờ nghỉ ăn trưa, hoặc trên bãi tắm. Thứ hai, các thư viện công cộng luôn hoạt động tích cực ở các khu dân cư trên toàn quốc. Cả ở lĩnh vực này chính sách chung là đem sách đến với người dân chứ không phải bảo vệ sách không cho dân sử dụng.
Lý do thứ ba và có thể là lý do quan trọng nhất là không có luật nào quy định ai là người bán sách và quy định giá cả cố định. Ai cũng có thể bán sách mới và cũ với giá giảm và giá khuyến khích, và gần như mọi người đều bán sách. Đã từ lâu, sách được bán ở khắp nơi, ở hiệu thuốc và cửa hàng tự phục vụ, quầy hàng bách hoá, các câu lạc bộ sách, các trường học và tại các quầy sách thông thường.
Nhiều hiệu sách ở các trường đại học là của sinh viên và do sinh viên quản lý. Các hiệu sách này hoạt động trên cơ sở phi lợi nhuận, có nghĩa là mọi lợi nhuận giành để làm cho giá sách thấp xuống, để trả lương cho những sinh viên phục vụ trong cửa hiệu, và thường để dành làm các học bổng cho sinh viên và các hình thức tài chính khác.
Các chương trình truyền hình và phát thanh toàn quốc, các phim mới, và sách ở dạng phim thường góp phần làm cho sách bán được khá nhiều.
Và lý do cuối cùng là do có một số sự hài hước đặc biệt Mỹ đối với toàn bộ thực tế này. Một số người Mỹ viết sách trong những năm 1980 cho rằng người Mỹ chưa đọc đủ hoặc ít ra chưa đọc “đúng cái đáng đọc”. Và những sách này cũng trở thành những cuốn bán chạy nhất.
Đài phát thanh và truyền hình
Nói về đài phát thanh và truyền hình Mỹ là một điều khó khăn, đơn giản là vì có qua nhiều cái để nói, nhiều thể loại khác nhau, và nhiều hình thái khác nhau.
Năm 1993, có trên 11.500 đài phát thanh riêng biệt hoạt động ở Mỹ. Trong số đó trên 1.600 đài phát thanh không mang tính thương mại, có nghĩa là không cho phép bất cứ quảng cáo hay quảng cáo thương mại nào. Những đài phát thanh giáo dục và công cộng này chủ yếu là của các trường cao đẳng và đại học, các trường trung học địa phương và các sở giáo dục, các nhóm tôn giáo khác nhau, và do họ điều hành.
Đồng thời, có 1.500 trạm truyền hình khác nhau, không chỉ là trạm chung chuyển để chuyển tiếp các chương trình. Trong số các trạm truyền hình này, 350 trạm không mang tính thương mại, không có lợi nhuận và mang tính giáo dục về bản chất, không cho phép quảng cáo các loại.
Giống như các trạm phát thanh phi thương mại, các đài truyền hình phi thương mại được sự trợ giúp từ cá nhân quyên góp, được tài trợ từ các quỹ và các tổ chức tư nhân, cộng với nguồn tài chính từ liên bang, bang và thành phố.
Tất cả các đài phát thanh truyền hình ở Mỹ, công cộng hay tư nhân, giáo dục hay thương mại, lớn hay bé, đều phải có giấy phép thu phát sóng từ Uỷ ban thông tin lên bang (FCC), một tổ chức liên bang độc lập. Mỗi giấy phép có giá trị chỉ trong một vài năm. Và các giấy phép này không được bán đấu giá cho những nhà thầu trả giá cao nhất như ở một số nước khác. Nếu các đài phát thanh truyền hình không tuân thủ quy định của FCC, họ có thể bị thu hồi giấy phép. Có một số quy định cần phải lưu ý.
Mặc dầu FCC quản lý việc truyền thanh và truyền hình, cơ quan này không quản lý việc thu sóng. Vì thế, ở Mỹ sở hữu các máy thu thanh và thu hình hoặc tiếp nhận bất cứ gì được phát đi đều không mất cước phí, không bị khoản thu nào, không mất thuế. Điều này vẫn là sự khác biệt chủ yếu giữa Mỹ và các nước khác, ở những nước này, luật pháp buộc mọi người phải trả lệ phí giấy phép, thậm chí khi người ta không xem những chương trình mà vẫn phải trả lệ phí, và thậm chí khi những chương trình này có cả quảng cáo thương mại.
Luật pháp cấm bất cứ bang nào hoặc chính quyền liên bang nào được sở hữu hoặc điều hành các đài phát thanh và truyền hình. Cũng không có sự kiểm duyệt của nhà nước hoặc “duyệt lại” chương trình và nội dung. Không có ban sở nào của nhà nước hay các nhóm được chỉ định nào để kiểm soát bất cứ việc phát thanh và truyền hình nào. Thay vào đó, FCC bảo dảm rằng không có tình trạng độc quyền nào tồn tại và mỗi lĩnh vực phải có nhiều thể loại chương trình và nhiều đài phát.
FCC cũng quản lý quyền sở hữu thông tin: ví dụ, không một tào báo nào có thể đồng thời sở hữu đài phát thanh hoặc truyền hình ở chính khu vực của họ, hay một đài phát thanh đồng thời sở hữu đài truyền hình ở cùng một nơi. Các chính sách này và những chính sách khác của FCC có nhiều tác dụng ngăn chặn bất cứ một nhóm nào có quá nhiều ảnh hưởng ở bất kỳ lĩnh vực nào và bảo đảm cho mỗi đơn vị có những lựa chọn rộng rãi.
Với chính sách “mỗi người đều có một cái gì đó”, thậm chí ở những nơi chỉ có 10.000 hoặc khoảng từng đó dân cũng thường có hai đài phát thanh địa phương. Các đài này có thể phát các sự kiện của địa phương và các bài về nông nghiệp, thời tiết và tình trạng đường xá trong vùng, về các cuộc họp của hội đồng thành phố, hoạt động của nhà thờ, các sự kiện thể thao và những việc khác mà dân chúng địa phương quan tâm. Họ cũng phát tin tức trong nước và quốc tế lấy từ các đài hoặc mạng lưới các đài lớn hơn và nhấn mạnh bất kỳ cái gì có thể là “câu chuyện quan trọng” ở thị trấn nhỏ đó.
Ngược lại, các thành phố lớn có rất nhiều đài phát thanh địa phương phục vụ, thường là hơn 25 đài, người dân sống ở các thành phố, ví dụ nhu New York, Chicago, hoặc Los Angeles, được chọn đến 100 đài sóng AM và FM và rất nhều “dạng” khác nhau.
Hầu hết các đài phát thanh mang tính thương mại đều có các chương trình riêng, một loại chương trình thu hút đối tượng nghe nhất định. Một vài trong số các chương trình phát thanh phổ biến nhất được in dưới đây với số lượng gần chính xác các đài phát thanh ở Mỹ cho mỗi thể loại (một số đài có thể nhiều loại hơn). Để đổi từ thể loại này sang thẻ loại khác, các đài phát thanh phải được FCC cho phép.
Mặc dù có khoảng 2.700 đài phát thanh phát nhạc đồng quê, nhưng thị trường người nghe cho mỗi đài chỉ là 11% so với khoảng 15% cho các đài phát tin tức và đàm thoại. Thị trường người nghe của 1.200 đài tôn giáo chỉ là 2%.
Các đài truyền hình cũng rất đa dạng, mặc dù nhìn chung có ít đài truyền thanh. Các thành phố và khu vực nhỏ có một hoặc hai địa phương, và các thành phố lớn hơn có 10 hoặc hơn. Chín mươi phần trăm toàn bộ các gia đình Mỹ có thể tiếp nhận ít nhất sáu đài truyền hình khác nhau, và hơn 60% có thể tiếp nhận từ 10 đài trở lên không cần cáp, không cần phải trả cước phí hoặc bất cứ khoảng nộp nào.
Chính sách cho phép hầu như tất cả mọi người đều có chút quyền lợi đã dẫn đến nhiều vô cùng thể loại khác nhau. Ví dụ, chính sách này dẫn đến hàng trăm đài phát thanh bằng tiếng nước ngoài, trong đó có các đài phát bằng tiếng Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Ba Lan, Bồ Đào Nha. Trên 350 đài phát thanh trên toàn nước Mỹ phát bằng tiếng Tây Ban Nha, 75 trong số đó phát hơn 10 giờ một ngày.
Khoảng sáu đài phát thanh là của các nhóm và bộ tộc người thổ dân da đỏ Mỹ. Có khoảng 400 đài do sinh viên các trường đại học điều hành. Trong số này, nhiều đài là thành viên của hệ thống phát thanh của các trường đại học trong toàn quốc mà ở đó họ chia sẻ quan điểm và tin tức với nhau.
Hệ thống Đài phát thanh công cộng toàn quốc (NPR) là hiệp hội gồm các đài công cộng, có nghĩa là không mang tính thương mại và là những đài mang tính giáo dục. NPR đặc biệt nổi tiếng về tin tức có chất lượng và các chương trình thảo luận. Một hệ thống đài phát thanh công cộng khác, hệ thống Đài phát thanh cộng cộng Mỹ(APR), thì cung cấp chương trình giải trí và bình luận, chương trình Người bạn đồng hành của quê hương đồng cỏ đã trở thành chương trình quốc gia được hâm mộ. Những chương tình nghiêm túc khác như mọi điều suy ngẫm (của NPR) đã đem lại cho các đài địa phương của hệ thống này sự trung thành vững chắc của người nghe. Và nhiều người đã quyên góp tiền cho những đài này tiếp tục hoạt động.
ABC,CBS,NBC,hoặc Fox không phải là hệ thống truyền hình lớn nhất. Những cơ sở này cũng không phải là một trong những hệ thống truyền hình tin tức và các chương trình liên quan đến tin như CNN (Hệ thống truyền tin cáp), không phải là ESPN, hệ thống truyền hình cáp về các loại thể thao, hoặc thậm chí MTVnổi tiếng về các băng video ca nhạc. Đúng hơn các đài này thuộc Hệ thống truyền hình công cộng.
PBS đặc biệt nổi tiếng nhờ chất lượng của nhiều chương trình truyền hình giáo dục của mình, đó là các chương trình chuyên vê dụng cụ giáo dục cho tất cả lứa tuổi khác nhau. Nova, những điều đặc biệt về Địa lý quốc gia, và Những hiểu biết về khoa học Mỹ, là cơ sở của một số chương trình này. Trên 95% các đài truyền hình công cộng này có các chương trình học từ xa, được trên .800 trường đại học và cao đẳng trong toàn quốc chấp nhận và ủng hộ. Mỗi năm trên ¼ triệu sinh viên “theo các khóa học” kiểu này.
Các chương trinh mới cho trẻ em như Barney và các bạn kế tục tuyền thống của PBS là các chương trình truyền hình có chất lượng cho trẻ em chưa đến tuổi đi học, và có các chương trình dài kỳ như truyền hình trực tiếp từ trung tâm Lincoln, truyền những vở opera và các bản nhạc hay nhất, trực tếp và không mất tiền.
Phần đông người Mỹ xem các chương trình của đài truyền hình thương mại. Khoảng 70% chương trình của các đài này được lấy từ bốn hệ thống thương mại. Các tổ chức này có một số lợi thế nhờ lượng tài chính và những người làm công tác chuyên môn của mình.Quan trọng hơn cả, họ có thể duy trì các tổ chức thu thập tin tức lớn trong toàn quốc và trên thế giới. Họ cũng thu được khá nhiều tiền từ việc bán tin và băng video cho các đài truyền hình quốc tế khác.
Tất cả bốn tổ chức này đều có các chương trình tin toàn quốc trong đó cũng đưa chủ yếu các tin nổi bật vào cá buổi sáng trong suốt cả tuần. Tất cả đều có các chương trình tin cố định phát hành nhiều kỳ. Trong số các chương trình được nhiều người biết đến nhất có chương trình 60 phút của CBS và The MacNeil hay Lehrer Newshour của PBS (MacNeil thôi không làm chương trình này năm 1995). Chương trình chuyền hình tồn tại lâu nhất trên thế gới là chương trình Gặp gỡ với giới báo chí của NBC, được phát hàng tuần từ năm 1948.
Trên thực tế, các hệ thống truyền hình thương mại đã tăng số lượng các chương tình hay với giới báo chí và chuyền các chương trình này vào “thời điểm quan trọng”. Các truyền hình địa phương cũng có lực lượng đi săn tin, phóng viên, và đội ngũ làm phim của riêng họ.
Đã có nhiều sách và các bài nghiên cứu, và các bài viết mang tính quần chúng về truyền hình thương mại Mỹ và các chương trình của nó, về chất lượng và kém chất lượng của chương trình, tác động trên thực tế và tưởng tượng của các chương trình này, về biểu tượng, các câu chuyện huyền thoại và sức mạnh của truyền hình thương mại. Tuy nhiên, cũng có không ít các nhóm áp lực ở Mỹ như các nhóm tôn giáo, giáo dục, và các nhóm đại diện cho các công ty quảng cáo, nên chương trình truyền hình thương mại phải truyền những gì mà phần đông dân chúng muốn xem.
Dân chúng Mỹ thường xuyên kiểm tra các chương trình đại chúng như vậy để xem họ nói gì về truyền hình Mỹ, về người Mỹ, hoặc thậm chí về các chủ đề trừu tượng như “lối sống của người Mỹ”.
Nhưng hầu hết các chương trình thương mại dài kỳ và các chương trình nói chung đã thành công ở Mỹ cũng đều thành công trên thế giới. Các nước chỉ có hệ thống truyền hình do nhà nước kiểm soát hoặc cung cấp tài chính thường mua và chiếu các chương trình này. Không một hệ thống truyền hình thương mại nào ở Mỹ cho rằng các chương trình dài kỳ như Dallas là vở kịch hay. Nhưng họ thấy các công ty truyền hình ngoại quốc như BBC hoặc ITV tranh giành nhau quyền phát sóng và các công ty khác vội vã làm các chương trình tương tự, vì thế họ kết luận rằng các chương trình giải trí nhiều kỳ này trên thực tế được quần chúng yêu thích.
Đôi khi người phê bình quên rằng một số chương trình có nguồn gốc từ Mỹ, hoặc có “giấy phép” từ Mỹ, và điều này đã dẫn đến những kết quả thú vị. Ví dụ,một bài báo trên tờ The Times (của London) năm 1992 đã phê phán mạnh mẽ một chương trình về trò chơi của Đức rằng đã “phơi bày toàn bộ mọi mặt về đời sống vật chất của xã hội Đức”. Điều này cũng ngớ ngẩn tương tự như việc đánh giá người Mỹ như thế nào qua việc người Mỹ xem hinh mẫu của họ, Bánh xe vận mệnh. Cả hai trường hợp đều thể hiện sự thiển cận.
Ngày nay, việc những nơi muốn quảng cáo có ảnh hưởng ở mức độ nào đến việc xây dựng chương trình truyền hình không còn được quan tâm nhiều như trước đây. Các quảng cáo thương mại đủ thế loại, từ những quảng cáo thú vị , hay thông minh đến những quảng cáo tẻ nhạt, chán ngắt và ngốc nghếch. Những nhà quảng cáo học dược một điều là trừ phi các quảng cáo của họ có một chút thú vị nếu không người xem sẽ chuyển sang kênh khác hoặc đứng lên làm việc khác khi có “nghỉ” quảng cáo. Năm 1990, Quốc hội thông qua luật giới hạn thời gian quảng cáo trong các chương trình truyền hình cho thiếu nhi là từ 10 đến 12 phút mỗi giờ. Không một chương trình nào khác bị giới hạn thơi gian quảng cáo như vậy.
Với các chương trình chuyền hình công cộng ngày càng được phổ biến rộng rãi và truyền hình cáp không mang tính thương mại, người xem nếu muốn có thể chuyển sang các kênh không có quảng cáo. Kinh nghiệm ở các nước dẫn đầu về số lượng chương trình truyền hình – theo thứ tự là Canada, Mỹ, và Nhật Bản – cho thấy, thậm chí với nhiều sự lựa chọn, các chương trình với mục đích thương mại vẫn được nhiều người ưa thích.
Cho dến cuối những năm 1980, người ta vẫn không biết chắc liệu các “giải pháp” về truyền hình mất tiền, truyên hình vệ tinh và truyền hình cáp như dự đoán có trở thành hiện thực hay không. Những người hoài nghi cho rằng các công ty truyền hình cáp sẽ phải có cái gì đó rất đặc biệt để làm cho người Mỹ phải trả tiền cho cái họ có thể xem, các chương trình thương mại thông thường và truyền hình công cộng không phải mất tiền.
Những nơi khác thì băn khoăn làm thế nào để bắt mọi người phải trả tiền cho cái mà người ta có thể có được với một đĩa về tinh. Đến nay thì rõ ràng những người hoài nghi này đã sai. Truyền hình cáp vệ tinh, và thể loại kết hợp cả hai hình thức đã tạo ra một cuộc cách mạng trong ngành truyền hình video ở Mỹ. Kết quả là đã ra đời các chương trình mới, đa dạng hơn, thuộc đủ các thể loại.
Không giống như ở nhiều nướ khác, ở Mỹ không có một hệ thống truyền hình cáp duy nhất, một chính sách chung toàn quốc, và không có danh mục những gì có thể hoặc không thể được truyền hình cáp. Nói một cách khác, ở mỗi địa phương dân chúng được tự do chọn hệ thống truyền hình, với những chương trình và giá cả họ chấp nhận (nếu có)trong số nhiều công ty truyền hình cáp đang cạnh tranh nhau.
Có nhiều thể loại hệ thống và chương trình khác nhau. Một số giới thiều các phim hàng đầu mới nhất trên các hệ thống xem mất tiền, một số chiếu các vở opera và nhạc giao hưởng. Tất cả các hệ thống này đều sẵn sàng cung cấp các kêng truyền hình “công chúng tham gia” trong đó các cá nhân và nhóm dân chúng tự lập nền các chương trình của mình.
Ở Mỹ hiện có tất cả 11.600 hệ thống truyền hình cáp đang hoạt động phục vụ khoảng 33.000 khu vưc dan cư. Rất nhiều chương trình mới khác nhau theo ý thích của những nhóm nhỏ hoặc những ý thích đặc biệt cũng ra đời.
Nước Mỹ có truyền thống thận trọng trong việc ngăn chặn bất cứ hình thức độc quyền truyền hình (hoặc truyền thanh) hay một thể loại chương trình nào. Các hệ thống truyền hình không phải là các đài quốc gia, mặc dù nhiều chương trình được chiếu toàn quốc. Tuy nhiên, không có đài phát thanh hay truyền hình nào được phép phát sóng trên toàn quốc. Các đài phát vệ tinh và cáp kết hợp đã tăng thêm thể loại chương trình và sự lựa chọn cho khán giả
Trên thực tế có các kênh được khán giả trên toàn quốc và hơn thế nữa, trên thế giới chọn xem. Hai kênh nổi tiếng nhất trong số đó là MTV và CNN. MTV khởi đẩu là một kênh giới thiệu về truyền hình cáp, đã trở thành một kênh quốc tế 24 giờ trong ngày. Nhiều nước đã xem chương trình này ở các thể loại đa dạng dành cho từng khu vực.
CNN, mạng tin truyền hình cáp, cũng khởi đầu từ một ý tưởng mà ngược trở lại năm 1980 ít ai nghĩ có thể thành công. Đài này đã có đội ngũ lấy tin tức toàn thế giới, và các hệ thống truyền hình lớn, được cung cấp tài chính đầy đủ ở các nước khác, cũng đã cho mục tin tức là thế mạnh của họ.
Cần thêm một vài nhận xét về “một người Mỹ điển hình” xem truyền hình nhiều đến mức độ nào. Rõ ràng là có rất nhiều cái và nhiều thể loại để xem. Các sự kiện thể thao được truyền trực tiếp và đầy đủ, thu hút rất nhiều người xem. Các bộ phim mới ra không bị cắt bỏ được nhiều người ưa thích và luôn có ít nhất một đài truyền hình có “phim chiếu muộn”, thường là các phim rùng rợn của phương Tây hoặc Nhật Bản bắt đầu chiếu từ nửa đêm và kéo dài đến ba hoặc bốn giờ sáng.
Các báo thông thường thường không thận trọng khi đưa các số liệu về thời gian xem truyền hình. Các con số thống kê của Mỹ phát hành hàng năm cho thấy thời gian trung bình một gia đình Mỹ điển hinh bật máy truyền hình mỗi ngày (và đêm) chứ không phải thời gian thực tế họ xem truyền hình. Khác biệt này là điều quan trọng. Vậy là cái được tính là toàn bộ thời gian máy truyền hình được bật (nay là 7 giờ trong một ngày). Trên thực tế, số giờ một người Mỹ được gọi là bình thường xem không thay đổi trong ba năm qua khoảng 4,5 giờ một tuần.
Ở Mỹ, máy truyền hình được bật lên theo cách và với cùng lý do như việc bật đài, đó là tiếng động và nhạc nền. Trong cả hai trường hợp mọi sinh hoạt vấn tiếp tục. Nhiều chương trình buổi sáng và ban ngày chỉ được xem ngắt quãng, trong khi các việc khác vẫn tiếp diễn và chỉ thỉnh thoảng đựơc để mắt tới.
Liên lạc điện tử
Đã trở thành điều thông thường, thậm chí lỗi thời khi chỉ ra rằng sự kết hợp giữa công nghệ thông tin và truyền thông, hai lĩnh vực một thời hòan toàn biệt lập, sẽ làm thế giới “như thế giới chúng ta đã biết” thay đổi. Hoặc, rằng sẽ có những thay đổi to lớn trong lĩnh vực truyền thông, giải trí, cung cách và trình tự sống và làm việc. Những nhận xét như thế không chỉ ngày càng lỗi thời mà còn không nắm bắt được một điểm là ở Mỹ ngày nay, cái gì là hiện tại và cái gì là tương lai, có thể nói, là cái đang diễn ra hiện nay.
Các hệ thống máy tính và đường truyền cáp, điện thoại và vệ tinh và các nhà xuất bản hiện được lên kết và hòa quyện với nhau. Qua chính sách xóa bỏ các quy chế của nhà nước đối với một số lĩnh vực cơ bản có thể “thay thế” được cho nhau.
Nhiều trường hợp mà thường chỉ một vài năm trước, có vẻ như không thể xảy ra thì giờ đã trở thành hiện thực hoặc thậm chí một vấn đề đã lùi vào quá khứ. Năm 1992, hệ thống cáp quang 150 kênh đầu tiên trên thế giới đã đi vào hoạt động ở khu các hoàng hậu ở thành phố New York. Năm mươi trong số các kênh này là kênh phim với khả năng phối hợp được với nhau, người xem có thể “gọi điện đến” và đặt chương trình muốn xem riêng của mình.
Xa lộ thông tin rộng lớn của Mỹ (hay còn gọi là “infobahn”) vẫn đang được thiết kế và xây dựng “từng byte một”. Đồng thời, hệ thống máy vi tính và dịch vụ thương mại trên mạng thường được coi là “những đường dẫn nối” tới đường cao tốc – đã rất bận rộn và đông đúc. Sự phát triển nhanh chóng này thể hiện rõ nhất trong hệ thống Internet. Hệ thống này bắt nguồn từ một hệ thống mạng khá hạn chế của Chính phủ Mỹ nhưng nhanh chóng phát triển thành hệ thống ban đầu là của quốc gia, sau đó trở thành hệ thống của thế giới, hệ thống trung tâm của các hệ thống.
Không ai biết có bao nhiêu người trên khắp thế giới sử dụng mạng Net. Vào giữa những năm 1990, có thể thấy những dự đoán chuyên môn về số người sử dụng mạng Net là từ khoảng 20 đến 50 triệu người. Và nếu dự đoán chung là khoảng 60 đến 70% số người sử dụng vẫn ở Mỹ không thôi, thì tốc độ sử dụng Internet này lan tràn tới những nước khác cũng đã rất chú ý rồi.
Chỉ riêng việc hệ thống Internet được biết đến nhanh chóng như thế nào trên khắp thế giới, và đặc biệt đối với công chúng nói chung, cũng có thể dễ dạng nhận thấy. Nhìn vào tốc độ nhanh chóng mà hệ thống Internet và thông tin về nó đã lan tỏa, thì sẽ là không khôn ngoan chút nào nếu dự đoán về tương lai của một cuộc cách mạng thay đổi thông tin nhanh chóng biết nhường nào và hiện đang lan rộng.
Tất nhiên, còn có rất nhiều câu hỏi cơ bản về cuộc cách mạng này mà chắc chắn sẽ tiếp tục được đặt ra vượt qua cuộc tranh cãi hiện nay. Một lần nữa, lấy Internet làm ví dụ, những câu hỏi như vậy gồm ai, nếu có, sẽ hoặc nên “kiểm soát” hay “chỉ đạo” Internet. Hiện nay không ai và không chính phủ nào làm những công việc đó, và thậm chí câu hỏi này có thể gây ra một sự tức giận lớn đối với những người cảm thấy rằng Internet không nên (hoặc nói cách khác, không thể) bị kiểm soát.
Những vấn đề bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ là những vấn đề rõ ràng đáng quan tâm. Một số người hêt sức lo lắng rằng những lĩnh vực có thể bị các phương tiện thông tin đại chúng “truyền thống” hạn chế về mặt luật pháp với, chẳng hạn, phim ảnh khiêu dâm, hay văn học mang tính phân biệt chủng tộc, lại có thể di chuyển một cách hữu hiệu khắp mọi nơi. Các cơ quan cảnh sát đang phải giải quyết một thực tế là tội phạm có tổ chức đã không hề chậm trễ trong việc thích nghi với những công nghệ truyền thông mới (và việc “bắt giữ máy tính cá nhân” chẳng giúp ích được gì).
Có những lo lắng thường trực của các bậc cha mẹ và thầy cô giáo rằng điều đó sẽ có nghĩa là một “sự mù chữ mới”, còn những người khác lại thấy rằng thư điện tử đối với bạn bè qua thư từ, rốt cuộc, chỉ là viết và đọc.
Tại Mỹ, có một sự chú ý đặc biệt đối với những cuộc tranh luận này, điều này làm chậm đáng kể ngày tháng của các cuộc tranh luận và sẽ (chúng tôi tin tưởng dự đoán như vậy) làm cho các cuộc tranh luận đó tiếp tục diễn ra.
Tất cả những câu hỏi như vậy và tương tự như vậy sẽ được giải quyết bằng quyền tập trung hàng đầu tới những khái niệm như “quyền tự do ngôn luận”, và “quyền tự do hội họp”. Một số nhà quan sát hiện nay đã nhận thấy một sự nhất trí trên khắp cả nước về “quyền phát triển thông tin”. Nhưng chúng tôi cảm thấy đây là một vấn đề đối với tương lai.
Bạn đọc: Lê Oanh (Hà Nội)
Trở thành nhà báo chỉ với một blog
TMT (Technology, Media & Telecommunication) là một tổ chức chuyên nghiên cứu về truyền thông trực thuộc Deloitte Touche Tohmatsu - một trong bốn hãng kiểm toán và tư vấn lớn nhất thế giới. Deloitte có văn phòng đại diện tại 140 quốc gia trên toàn thế giới (trong đó có Việt Nam), với 135.000 nhân viên. Tập đoàn này cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn kinh doanh và tư vấn thuế cho hơn 80% các khách hàng lớn trên thế giới, bao gồm: các công ty đa quốc gia, các doanh nughiệp tầm cỡ quốc gia, các công ty truyền thông … với doanh thu đạt trên 20 tỷ USD/năm.
Dự báo về truyền thông thế giới là một trong những tài liệu do TMT nghiên cứu dưới sự quản lý của Deloitte. Đây là tài liệu quan trọng của hãng dùng để tư vấn chiến lược phát triển cho các công ty truyền thông. Tài liệu được xây dựng dựa trên 36 cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo truyền thông trên khắp thế giới và các bài báo do các phóng viên của TMT viết trên tờ Financial Times trong suốt thời gian qua.
"Với một chiếc bút vẽ bạn rất có thể sẽ trở thành Picasso - Với một blog bạn hoàn toàn có thể trở thành nhà báo". Đó là nhận định thú vị về xu hướng nhà báo công dân được đăng tải trong tài liệu Dự báo về truyền thông thế giới do TMT, một tổ chức chuyên về truyền thông mới công bố năm nay.
Trong năm 2006, chúng ta đã được chứng kiến cuộc “đổ bộ” của các blogger trên mạng Internet. Số lượng các blog tăng như “nấm sau mưa”. Chỉ với một trang cá nhân miễn phí, công chúng lập tức trở thành người đưa tin.
Với một chiếc máy quay kỹ thuật số, hay chỉ là chiếc điện thoại di động, ai cũng có thể tự sản xuất một bộ phim ăn khách trên mạng Interent. Điều này khiến cả Hollywood bàng hoàng.
Đến năm 2007, xu hướng này còn phát triển rầm rộ hơn. Số lượng blog, thuê bao di động tăng không ngừng, web cá nhân nở rộ. Số lượng người truy cập blog hàng ngày cũng tăng cao. Nếu không tính các blog của những nhà báo, biên tập viên nổi tiếng, đã có những blog cá nhân đạt đến mức 60 triệu người truy cập.
Vì thông tin trên các blog không thể đảm bảo tính chính xác hoàn toàn nên tại thời điểm hiện tại, blog không thể lấn lướt các phương tiện truyền thông chính thống.
Nhưng không có nghĩa rằng nhà báo công dân và các thiết bị số không đóng vai trò gì trong thế giới truyền thông. Những vụ lớn trên thế giới thời gian qua đã thể hiện rõ sự nhập cuộc và đóng góp quý giá của các nhà quay phim, chụp ảnh nghiệp dư (như vụ sập cầu tại Missisippi (Mỹ).
Có những blogger bộc lộ tài năng trong việc làm báo, công việc mà trước kia họ không bao giờ nghĩ đến. Nhờ có blog, nhiều tờ báo đã bổ sung thêm cho đội ngũ phóng viên năng động, sáng tạo và tràn đầy nhiệt huyết.
Để theo kịp xu hướng này, nhiều tờ báo nổi tiếng như New York Times hay Wall Street Journal đã thiết kế blog cho độc giả của mình. Chiến lược này đã thu hút một lượng lớn độc giả đến với báo. Các trang chia sẻ video hay ảnh như Youtube, Flirk vì thế cũng làm ăn phát đạt.
Máy điện thoại di động ngày càng được các nhà sản xuất cho thêm nhiều chức năng, đặc biệt là các chức năng có liên kết với các blog, mạng xã hội….
Các loại hình báo chí như truyền hình, phát thanh tưởng như không mấy chịu ảnh hưởng của xu hướng này nhưng thực tế vai trò nhà báo công dân trong các chương trình trên TV hay đài phát thanh ngày càng thể hiện rõ. Những bức thư của khán giả, thậm chí bức vẽ của một em nhỏ hay những cuộc gọi điện từ phía thính giả cũng thường xuyên được lên sóng.
Trở lại nhận định thú vị của TMT "Với một chiếc bút vẽ bạn rất có thể sẽ trở thành Picasso. Tương tự như vậy, nếu sở hữu một blog bạn hoàn toàn có thể trở thành nhà báo". Với một chiếc bút vẽ bạn hoàn toàn có khả năng làm công việc Picasso từng làm, đó là vẽ. Giống như nếu có blog bạn có thể đưa tin đến với công chúng. Nhưng trở thành Picasso cũng như trở thành nhà báo chuyên nghiệp đều không dễ chút nào.
Trên đây là một trong những dự đoán của TMT về xu hướng phát triển của truyền thông trong những năm tới. Tuần Việt Nam xin được lần lượt giới thiệu với bạn đọc các xu hướng phát triển khác trong các bài tiếp theo.
H.T (theo Media Prediction)
Dự báo về truyền thông thế giới là một trong những tài liệu do TMT nghiên cứu dưới sự quản lý của Deloitte. Đây là tài liệu quan trọng của hãng dùng để tư vấn chiến lược phát triển cho các công ty truyền thông. Tài liệu được xây dựng dựa trên 36 cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo truyền thông trên khắp thế giới và các bài báo do các phóng viên của TMT viết trên tờ Financial Times trong suốt thời gian qua.
"Với một chiếc bút vẽ bạn rất có thể sẽ trở thành Picasso - Với một blog bạn hoàn toàn có thể trở thành nhà báo". Đó là nhận định thú vị về xu hướng nhà báo công dân được đăng tải trong tài liệu Dự báo về truyền thông thế giới do TMT, một tổ chức chuyên về truyền thông mới công bố năm nay.
Trong năm 2006, chúng ta đã được chứng kiến cuộc “đổ bộ” của các blogger trên mạng Internet. Số lượng các blog tăng như “nấm sau mưa”. Chỉ với một trang cá nhân miễn phí, công chúng lập tức trở thành người đưa tin.
Với một chiếc máy quay kỹ thuật số, hay chỉ là chiếc điện thoại di động, ai cũng có thể tự sản xuất một bộ phim ăn khách trên mạng Interent. Điều này khiến cả Hollywood bàng hoàng.
Đến năm 2007, xu hướng này còn phát triển rầm rộ hơn. Số lượng blog, thuê bao di động tăng không ngừng, web cá nhân nở rộ. Số lượng người truy cập blog hàng ngày cũng tăng cao. Nếu không tính các blog của những nhà báo, biên tập viên nổi tiếng, đã có những blog cá nhân đạt đến mức 60 triệu người truy cập.
Vì thông tin trên các blog không thể đảm bảo tính chính xác hoàn toàn nên tại thời điểm hiện tại, blog không thể lấn lướt các phương tiện truyền thông chính thống.
Nhưng không có nghĩa rằng nhà báo công dân và các thiết bị số không đóng vai trò gì trong thế giới truyền thông. Những vụ lớn trên thế giới thời gian qua đã thể hiện rõ sự nhập cuộc và đóng góp quý giá của các nhà quay phim, chụp ảnh nghiệp dư (như vụ sập cầu tại Missisippi (Mỹ).
Có những blogger bộc lộ tài năng trong việc làm báo, công việc mà trước kia họ không bao giờ nghĩ đến. Nhờ có blog, nhiều tờ báo đã bổ sung thêm cho đội ngũ phóng viên năng động, sáng tạo và tràn đầy nhiệt huyết.
Để theo kịp xu hướng này, nhiều tờ báo nổi tiếng như New York Times hay Wall Street Journal đã thiết kế blog cho độc giả của mình. Chiến lược này đã thu hút một lượng lớn độc giả đến với báo. Các trang chia sẻ video hay ảnh như Youtube, Flirk vì thế cũng làm ăn phát đạt.
Máy điện thoại di động ngày càng được các nhà sản xuất cho thêm nhiều chức năng, đặc biệt là các chức năng có liên kết với các blog, mạng xã hội….
Các loại hình báo chí như truyền hình, phát thanh tưởng như không mấy chịu ảnh hưởng của xu hướng này nhưng thực tế vai trò nhà báo công dân trong các chương trình trên TV hay đài phát thanh ngày càng thể hiện rõ. Những bức thư của khán giả, thậm chí bức vẽ của một em nhỏ hay những cuộc gọi điện từ phía thính giả cũng thường xuyên được lên sóng.
Trở lại nhận định thú vị của TMT "Với một chiếc bút vẽ bạn rất có thể sẽ trở thành Picasso. Tương tự như vậy, nếu sở hữu một blog bạn hoàn toàn có thể trở thành nhà báo". Với một chiếc bút vẽ bạn hoàn toàn có khả năng làm công việc Picasso từng làm, đó là vẽ. Giống như nếu có blog bạn có thể đưa tin đến với công chúng. Nhưng trở thành Picasso cũng như trở thành nhà báo chuyên nghiệp đều không dễ chút nào.
Trên đây là một trong những dự đoán của TMT về xu hướng phát triển của truyền thông trong những năm tới. Tuần Việt Nam xin được lần lượt giới thiệu với bạn đọc các xu hướng phát triển khác trong các bài tiếp theo.
H.T (theo Media Prediction)
ZenithOptimedia dự báo chi phí cho quảng cáo toàn cầu sẽ giảm 14 tỷ bảng.
Dự báo chi tiêu cho quảng cáo toàn cầu sẽ giảm 14 tỷ bảng chỉ hai tháng trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính nhưng xét trong hiện tại thì tình hình lại càng khó khăn hơn ban đầu (theo ZenithOptimedia).
Bộ phận mua truyền thông của Publicis Groupe sẽ thông báo tại hội nghị truyền thông hàng năm, UBS tại New York, rằng dự đoán sẽ có sự sụt giảm nghiêm trọng trong tổng chi tiêu cho quảng cáo toàn cầu trong năm 2009, từ 4% xuống còn 0.2%.
Vào tháng 10 tổng chi tiêu này dự kiến sẽ tăng trưởng ở mức 4% nhưng hiện tại mức dự đoán chỉ còn 0.2%, với sự sụt giảm lớn nhất tại thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu.
Chỉ riêng tại Anh, ZenithOptimedia đã cắt giảm 427 nghìn bảng so với dự báo trước đó, và ước tính tổng giá trị của thị trường quảng cáo sẽ đạt 12.8 tỷ bảng trong năm 2009.Chi tiêu cho quảng cáo tại Bắc Mỹ sẽ giảm 5.7% so với năm 2008 vào năm tới.
Đối với khu vực Đông Âu, ZenithOptimedia đã giảm mức dự đoán của mình từ tăng trường 2.6% xuống còn sụt giảm 1%.Công ty này cũng đã điều chỉnh lại mức phát triển mong đợi ở khu vực Trung và Đông Âu, từ 12.7% xuống chỉ còn 1.5% tập trung vào các nền kinh tế vững chắc như Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine.
Tuy nhiên ZenithOptimedia vẫn tin rằng sự phát triển của các thị trường quảng cáo sẽ dẫn đến sự phát triển về lâu dài, dự đoán rằng họ sẽ đóng góp lên đến 89% tốc độ tăng trưởng chi tiêu cho quảng cáo từ năm 2008 đến 2011.
Khu vưc Mỹ Latin vẫn được xem là khu vực phát triển mạnh với tốc độ mong đợi là 14.9% trong 2009, dựa vào tốc độ tăng trường 30% tại Brazil.
Quảng cáo trực tuyến sẽ phát triển nhanh hơn vào năm 2009 ở mức 17.7%, trong khi đó quảng cáo trên báo chí và đài phát thanh có thể sụt giảm. ZenithOptimedia thông báo rằng vì sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, nên bây giờ công ty sẽ bắt đầu đánh giá số liệu qua từng tháng thay vì từng quý như trước đây.
Công ty cũng trông đợi sự phục hồi nhẹ của thị truờng bắt đầu từ quý 3 năm 2009.
Nikki Sandison(Minh Anh - Sưu tầm và lược dịch từ Brand Republic.com)
Bộ phận mua truyền thông của Publicis Groupe sẽ thông báo tại hội nghị truyền thông hàng năm, UBS tại New York, rằng dự đoán sẽ có sự sụt giảm nghiêm trọng trong tổng chi tiêu cho quảng cáo toàn cầu trong năm 2009, từ 4% xuống còn 0.2%.
Vào tháng 10 tổng chi tiêu này dự kiến sẽ tăng trưởng ở mức 4% nhưng hiện tại mức dự đoán chỉ còn 0.2%, với sự sụt giảm lớn nhất tại thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu.
Chỉ riêng tại Anh, ZenithOptimedia đã cắt giảm 427 nghìn bảng so với dự báo trước đó, và ước tính tổng giá trị của thị trường quảng cáo sẽ đạt 12.8 tỷ bảng trong năm 2009.Chi tiêu cho quảng cáo tại Bắc Mỹ sẽ giảm 5.7% so với năm 2008 vào năm tới.
Đối với khu vực Đông Âu, ZenithOptimedia đã giảm mức dự đoán của mình từ tăng trường 2.6% xuống còn sụt giảm 1%.Công ty này cũng đã điều chỉnh lại mức phát triển mong đợi ở khu vực Trung và Đông Âu, từ 12.7% xuống chỉ còn 1.5% tập trung vào các nền kinh tế vững chắc như Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine.
Tuy nhiên ZenithOptimedia vẫn tin rằng sự phát triển của các thị trường quảng cáo sẽ dẫn đến sự phát triển về lâu dài, dự đoán rằng họ sẽ đóng góp lên đến 89% tốc độ tăng trưởng chi tiêu cho quảng cáo từ năm 2008 đến 2011.
Khu vưc Mỹ Latin vẫn được xem là khu vực phát triển mạnh với tốc độ mong đợi là 14.9% trong 2009, dựa vào tốc độ tăng trường 30% tại Brazil.
Quảng cáo trực tuyến sẽ phát triển nhanh hơn vào năm 2009 ở mức 17.7%, trong khi đó quảng cáo trên báo chí và đài phát thanh có thể sụt giảm. ZenithOptimedia thông báo rằng vì sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, nên bây giờ công ty sẽ bắt đầu đánh giá số liệu qua từng tháng thay vì từng quý như trước đây.
Công ty cũng trông đợi sự phục hồi nhẹ của thị truờng bắt đầu từ quý 3 năm 2009.
Nikki Sandison(Minh Anh - Sưu tầm và lược dịch từ Brand Republic.com)
Báo kết hợp blog - lựa chọn mới của người Mỹ
Ra đời được 2 năm rưỡi, The Huffington Post là 1 trong 5 blog được nhiều người truy cập nhất trên thế giới. Đây là tờ báo mạng đi tiên phong trong việc cung cấp thông tin đa chiều cho độc giả bằng mô hình kết hợp với blog.
Năm 2005, The Huffington Post gia nhập làng truyền thông Mỹ dưới mô hình blog. Ban đầu, bài viết của nó là các entry từ blog của những người có tầm ảnh hưởng trong xã hội. Điều đặc biệt trong cơ chế hoạt động của The Huffington Post chính là mọi bài báo đều không được hưởng nhuận bút. Và các blogger tham gia viết bài bằng tinh thần tự nguyện.
Mô hình báo kết hợp blog phát huy hiệu quả cao
Sau gần 2 năm rưỡi hoạt động với chi phí bỏ ra gần 10 triệu đôla, mô hình báo kết hợp với blog này dần dần đi vào hoạt động hiệu quả. Theo kết quả khảo sát gần đây, The Huffington Post là 1 trong 5 blog được nhiều người truy cập nhất và chắc chắn sang năm khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ trở thành tâm điểm, con số này sẽ còn tăng gấp đôi.
Từ 3 nhân viên trong những ngày đầu thành lập, giờ đây, số nhân viên chính thức đã là 43 người - một con số ngoài sức tưởng tượng đối với cả những người điều hành tờ báo. Danh sách các blogger của Huffington lên đến 1,800 người, trong đó có cả những tên tuồi đình đám như học giả Bill Maher và Harry Shearer, cả người viết kịch bản kiêm đạo diễn Nora Ephron và diễn viên Steven Webber.
Slogan của tờ báo này là “Nếu một ngày bạn thức giấc, trong lòng đầy ắp tâm sự. Đừng ngần ngại: Hãy chia sẻ cùng chúng tôi”!
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia trong ngành truyền thông ở Mỹ, với sự bùng nổ của Internet hiện nay, chỉ một, hai năm nữa thôi, The Huffington Post sẽ là một thương hiệu hàng đầu giống như MySpace và Facebook bây giờ.
Hiện tại, những chủ đề về chính trị và chống chiến tranh đang là tâm điểm của The Huffington Post. Tuy nhiên, những người điều hành tờ báo này đang hướng đến mục tiêu xây dựng The Huffington Post thành một tờ báo mạng với nguồn thông tin phong phú hơn. Willow Bay, cựu giám đốc sản xuất của CNN đang là tổng biên tập của tờ báo này, phụ trách về mảng đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trang nhất của The Huffington Post vẫn sẽ là những bài viết nóng hổi về chiến tranh Iraq. Mục tiêu của Hufington là xây dựng tờ báo này thành một diến đàn xã hội với chủ đề là chiến tranh Iraq. Đây sẽ là nơi mà mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, từ những người yêu chuộng hòa bình đến những ai ủng hộ chính sách hiện tại của tổng thống Bush. Quan điểm về sự tự do là một trong những sức hấp dẫn lớn lao thu hút các blogger gửi bài đến cho tờ báo này.
Hilary Rosen, cựu chủ tịch của the Recording Industry Association ở Mỹ và một bình luận viên về chính trị thường xuyên của đài MSNBC tỏ ra hài lòng: “Thật là tuyệt khi thấy bài báo mình vừa viết lúc 3h sáng lại được đăng ngay lập tức và gần như không bị chỉnh sửa một từ nào”!
Giờ đây, trên The Huffington Post, từ những nhân vật nổi tiếng đến sinh viên đại học, giáo sư, chính trị gia, và những người bình thường đều có quyền nói lên tiếng nói của mình.
Trong khi các tờ báo truyền thống chỉ đăng tải những thông tin theo hướng một chiều, thì The Huffington Post lại làm ngược lại. Tờ báo này cung cấp cho độc giả những thông tin thú vị, nhưng không quá quan tâm xem quan điểm đó là của ai. Có lẽ đó là lý do giải thích tại sao nó lại ngày càng thu hút được nhiều độc giả như vậy.
“Theo tôi, báo chí phải học cách thích nghi, làm sao để mọi thông tin vừa cập nhật lại luôn có giá trị đối với độc giả dù ở bất cứ thời điểm nào. Chỉ có như thế mới mong tồn tại được trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay” - Tổng biên tập tờ báo, bà Arianna Huffington khẳng định.
Thu Hiền (theo USA Today)
Năm 2005, The Huffington Post gia nhập làng truyền thông Mỹ dưới mô hình blog. Ban đầu, bài viết của nó là các entry từ blog của những người có tầm ảnh hưởng trong xã hội. Điều đặc biệt trong cơ chế hoạt động của The Huffington Post chính là mọi bài báo đều không được hưởng nhuận bút. Và các blogger tham gia viết bài bằng tinh thần tự nguyện.
Mô hình báo kết hợp blog phát huy hiệu quả cao
Sau gần 2 năm rưỡi hoạt động với chi phí bỏ ra gần 10 triệu đôla, mô hình báo kết hợp với blog này dần dần đi vào hoạt động hiệu quả. Theo kết quả khảo sát gần đây, The Huffington Post là 1 trong 5 blog được nhiều người truy cập nhất và chắc chắn sang năm khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ trở thành tâm điểm, con số này sẽ còn tăng gấp đôi.
Từ 3 nhân viên trong những ngày đầu thành lập, giờ đây, số nhân viên chính thức đã là 43 người - một con số ngoài sức tưởng tượng đối với cả những người điều hành tờ báo. Danh sách các blogger của Huffington lên đến 1,800 người, trong đó có cả những tên tuồi đình đám như học giả Bill Maher và Harry Shearer, cả người viết kịch bản kiêm đạo diễn Nora Ephron và diễn viên Steven Webber.
Slogan của tờ báo này là “Nếu một ngày bạn thức giấc, trong lòng đầy ắp tâm sự. Đừng ngần ngại: Hãy chia sẻ cùng chúng tôi”!
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia trong ngành truyền thông ở Mỹ, với sự bùng nổ của Internet hiện nay, chỉ một, hai năm nữa thôi, The Huffington Post sẽ là một thương hiệu hàng đầu giống như MySpace và Facebook bây giờ.
Hiện tại, những chủ đề về chính trị và chống chiến tranh đang là tâm điểm của The Huffington Post. Tuy nhiên, những người điều hành tờ báo này đang hướng đến mục tiêu xây dựng The Huffington Post thành một tờ báo mạng với nguồn thông tin phong phú hơn. Willow Bay, cựu giám đốc sản xuất của CNN đang là tổng biên tập của tờ báo này, phụ trách về mảng đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trang nhất của The Huffington Post vẫn sẽ là những bài viết nóng hổi về chiến tranh Iraq. Mục tiêu của Hufington là xây dựng tờ báo này thành một diến đàn xã hội với chủ đề là chiến tranh Iraq. Đây sẽ là nơi mà mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, từ những người yêu chuộng hòa bình đến những ai ủng hộ chính sách hiện tại của tổng thống Bush. Quan điểm về sự tự do là một trong những sức hấp dẫn lớn lao thu hút các blogger gửi bài đến cho tờ báo này.
Hilary Rosen, cựu chủ tịch của the Recording Industry Association ở Mỹ và một bình luận viên về chính trị thường xuyên của đài MSNBC tỏ ra hài lòng: “Thật là tuyệt khi thấy bài báo mình vừa viết lúc 3h sáng lại được đăng ngay lập tức và gần như không bị chỉnh sửa một từ nào”!
Giờ đây, trên The Huffington Post, từ những nhân vật nổi tiếng đến sinh viên đại học, giáo sư, chính trị gia, và những người bình thường đều có quyền nói lên tiếng nói của mình.
Trong khi các tờ báo truyền thống chỉ đăng tải những thông tin theo hướng một chiều, thì The Huffington Post lại làm ngược lại. Tờ báo này cung cấp cho độc giả những thông tin thú vị, nhưng không quá quan tâm xem quan điểm đó là của ai. Có lẽ đó là lý do giải thích tại sao nó lại ngày càng thu hút được nhiều độc giả như vậy.
“Theo tôi, báo chí phải học cách thích nghi, làm sao để mọi thông tin vừa cập nhật lại luôn có giá trị đối với độc giả dù ở bất cứ thời điểm nào. Chỉ có như thế mới mong tồn tại được trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay” - Tổng biên tập tờ báo, bà Arianna Huffington khẳng định.
Thu Hiền (theo USA Today)
12/12/08
Khi báo chí... "đối đầu"
Vụ việc công ty Rass xin 853ha đất liền, đảo và mặt biển trong vịnh Nha Trang làm dự án du lịch sinh thái để đón Hoa hậu thế giới (HHTG) 2010 đã được phản ánh trên báo với những góc nhìn dường như trái ngược nhau - Dư luận đặt câu hỏi về những luông thông tin khác biệt đó.
Ngày 1/11/2008, vụ việc công ty Rass xin 853ha đất liền, đảo và mặt biển trong vịnh Nha Trang làm dự án du lịch sinh thái để đón Hoa hậu thế giới (HHTG) 2010 được phản ánh lần đầu tiên trên báo Tuổi trẻ.
Ngày 4/11/2008, báo Tuổi trẻ tiếp tục đưa tin đoàn kiểm tra của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) đã đi khảo sát, kiểm tra thực tế việc chấp hành các quy định của Luật di sản văn hóa tại các khu vực đã hoặc đang xin triển khai dự án nằm trong vùng 1 của danh thắng quốc gia vịnh Nha Trang, trong đó có dự án khu vực Bãi Tre - Đầm Bấy kể trên.
Ngày 6/11/2008, báo Thanh Niên đưa tin Công ty Raas rút ý định đầu tư ở vịnh Nha Trang. Và ngày 10/11/2008, báo Thanh Niên có một bài viết dài với tên gọi: “Xung quanh việc lập dự án phục vụ cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2010 tại VN: Nhà đầu tư cảm thấy bị xúc phạm”.
Mô phỏng khu vực dự án trên đảo Hòn Tre. Ảnh: Tuổi trẻ
Sự việc sẽ không có gì đáng nói, nếu hai cơ quan ngôn luận này chỉ đơn thuần đưa tin phản ánh theo đúng chức năng báo chí. Nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Thông qua các bài viết, hai "anh cả" trong làng báo chí thể hiện rõ quan điểm, chính kiến của mình về sự việc này. Và điều đặc biệt là, hai chính kiến ấy hoàn toàn trái ngược nhau.
Trống đánh xuôi…
Trong bài viết “Vịnh Nha Trang: Đổi di sản lấy phù hoa?”, tác giả Võ Văn Tạo của báo Tuổi trẻ thể hiện một sự phẫn nộ lớn. Theo tác giả, “đại công trường” đào non khoét biển của RAAS và chất thải của quần thể du lịch, với sức chứa 5.000 khách lưu trú và hàng nghìn khách tham quan vãng lai mỗi ngày chắc chắn sẽ đe dọa nghiêm trọng môi trường sinh thái biển nơi đây…
Rõ ràng việc cho đào xới, xây dựng với quy mô lớn như dự án của RAAS trong khu vực bảo vệ 1 của danh thắng quốc gia vịnh Nha Trang cũng đồng nghĩa với việc coi Luật di sản văn hóa không hề tồn tại!”.
Cuối bài viết, tác giả đưa ra một câu hỏi đã có lời đáp: “Chọn lợi ích to lớn và bền vững của cả cộng đồng nhờ bảo vệ, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên hay lợi ích của RAAS cùng phù hoa của một cuộc thi HHTG 2010?”
Khi đọc bài viết này, độc giả cảm nhận rõ rệt sự nguy hiểm của dự án, những lợi ích mà nó mang lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ khi so với những thiệt hại lâu dài và rộng khắp mà dự án gây ra cho Nha Trang nói riêng và Việt Nam nói chung. Như một quy luật tất yếu, độc giả sẽ cùng đồng lòng với tác giả phản đối quyết liệt dự án cũng như phản đối đề xuất của công ty Rass.
… Kèn thổi ngược
Mười ngày sau, độc giả được tiếp cận với luồng thông tin từ báo Thanh Niên. Bài viết điểm lại các hoạt động mang ý nghĩa xã hội, phi lợi nhuận của công ty Rass tiến hành tại Việt Nam cũng như các chỉ đạo sát sao của cơ quan quản lý trong việc thẩm tra, quyết định dự án Bãi Tre - Đầm Bấy.
Đặc biệt, bài viết cũng dành hẳn một phần “Nhà đầu tư bị xúc phạm” để chiêu tuyết cho ông Hoàng Kiều và công ty Rass.
Đây là đoạn cuối trong bài viết rất dài này: “Hãy đặt mình vào vị trí của ông Hoàng Kiều và xem lại toàn bộ thực tế hoạt động từ thiện, xã hội của công ty ông tại VN, sẽ thấy rõ ràng cách “góp ý” của một số bài báo như trên là quá đáng, là không thiện chí và sòng phẳng đối với một nhà đầu tư. Và việc ngày 6.11.2008, lãnh đạo Công ty Raas gửi thông báo đến nhiều nơi cam kết vẫn cùng UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức cuộc thi HHTG 2010 và tài trợ một số sự kiện của Festival biển tại Nha Trang 2009 nhưng sẽ ngừng thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái Đầm Bấy, là một cử chỉ đang gây nhiều cảm xúc trong giới đầu tư”.
Không thể đến tận địa điểm sự việc, không được tiếp cận với những người trực tiếp liên quan cũng như những thông tin chính thức, người dân chỉ biết theo dõi qua báo chí. Nhưng ngay cả báo chí cũng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, người dân biết nghe ai?
Lúc này, có lẽ người dân chỉ còn chờ sự tham gia của các cơ quan quản lý. Những ý kiến xác đáng, với chứng cứ khoa học cụ thể từ các đơn vị có thẩm quyền sẽ giúp nhân dân đánh giá chính xác sự việc.
Mặc dù công ty Rass đã quyết định ngừng thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái Đầm Bấy nhưng những vấn đề của sự việc thì vẫn cần có câu trả lời.
Thứ nhất, việc đầu tư xây dựng vài trăm ha khu du lịch có ảnh hưởng đến toàn bộ vịnh Nha Trang và mức độ ảnh hưởng đến đâu?
Thứ hai, quyết định của NBND tỉnh Khánh Hòa tán thành đề xuất xây dựng của công ty Rass có vi phạm luật Di sản văn hóa?
Trả lời những câu hỏi đó, để không xảy ra một vụ việc “Đổi di sản lấy phù hoa?” (nếu có), và báo chí cũng không phải tốn giấy mực lao vào cuộc tranh cãi sai mục đích một lần nữa.
*
Đông Hải
Ngày 1/11/2008, vụ việc công ty Rass xin 853ha đất liền, đảo và mặt biển trong vịnh Nha Trang làm dự án du lịch sinh thái để đón Hoa hậu thế giới (HHTG) 2010 được phản ánh lần đầu tiên trên báo Tuổi trẻ.
Ngày 4/11/2008, báo Tuổi trẻ tiếp tục đưa tin đoàn kiểm tra của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) đã đi khảo sát, kiểm tra thực tế việc chấp hành các quy định của Luật di sản văn hóa tại các khu vực đã hoặc đang xin triển khai dự án nằm trong vùng 1 của danh thắng quốc gia vịnh Nha Trang, trong đó có dự án khu vực Bãi Tre - Đầm Bấy kể trên.
Ngày 6/11/2008, báo Thanh Niên đưa tin Công ty Raas rút ý định đầu tư ở vịnh Nha Trang. Và ngày 10/11/2008, báo Thanh Niên có một bài viết dài với tên gọi: “Xung quanh việc lập dự án phục vụ cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2010 tại VN: Nhà đầu tư cảm thấy bị xúc phạm”.
Mô phỏng khu vực dự án trên đảo Hòn Tre. Ảnh: Tuổi trẻ
Sự việc sẽ không có gì đáng nói, nếu hai cơ quan ngôn luận này chỉ đơn thuần đưa tin phản ánh theo đúng chức năng báo chí. Nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Thông qua các bài viết, hai "anh cả" trong làng báo chí thể hiện rõ quan điểm, chính kiến của mình về sự việc này. Và điều đặc biệt là, hai chính kiến ấy hoàn toàn trái ngược nhau.
Trống đánh xuôi…
Trong bài viết “Vịnh Nha Trang: Đổi di sản lấy phù hoa?”, tác giả Võ Văn Tạo của báo Tuổi trẻ thể hiện một sự phẫn nộ lớn. Theo tác giả, “đại công trường” đào non khoét biển của RAAS và chất thải của quần thể du lịch, với sức chứa 5.000 khách lưu trú và hàng nghìn khách tham quan vãng lai mỗi ngày chắc chắn sẽ đe dọa nghiêm trọng môi trường sinh thái biển nơi đây…
Rõ ràng việc cho đào xới, xây dựng với quy mô lớn như dự án của RAAS trong khu vực bảo vệ 1 của danh thắng quốc gia vịnh Nha Trang cũng đồng nghĩa với việc coi Luật di sản văn hóa không hề tồn tại!”.
Cuối bài viết, tác giả đưa ra một câu hỏi đã có lời đáp: “Chọn lợi ích to lớn và bền vững của cả cộng đồng nhờ bảo vệ, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên hay lợi ích của RAAS cùng phù hoa của một cuộc thi HHTG 2010?”
Khi đọc bài viết này, độc giả cảm nhận rõ rệt sự nguy hiểm của dự án, những lợi ích mà nó mang lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ khi so với những thiệt hại lâu dài và rộng khắp mà dự án gây ra cho Nha Trang nói riêng và Việt Nam nói chung. Như một quy luật tất yếu, độc giả sẽ cùng đồng lòng với tác giả phản đối quyết liệt dự án cũng như phản đối đề xuất của công ty Rass.
… Kèn thổi ngược
Mười ngày sau, độc giả được tiếp cận với luồng thông tin từ báo Thanh Niên. Bài viết điểm lại các hoạt động mang ý nghĩa xã hội, phi lợi nhuận của công ty Rass tiến hành tại Việt Nam cũng như các chỉ đạo sát sao của cơ quan quản lý trong việc thẩm tra, quyết định dự án Bãi Tre - Đầm Bấy.
Đặc biệt, bài viết cũng dành hẳn một phần “Nhà đầu tư bị xúc phạm” để chiêu tuyết cho ông Hoàng Kiều và công ty Rass.
Đây là đoạn cuối trong bài viết rất dài này: “Hãy đặt mình vào vị trí của ông Hoàng Kiều và xem lại toàn bộ thực tế hoạt động từ thiện, xã hội của công ty ông tại VN, sẽ thấy rõ ràng cách “góp ý” của một số bài báo như trên là quá đáng, là không thiện chí và sòng phẳng đối với một nhà đầu tư. Và việc ngày 6.11.2008, lãnh đạo Công ty Raas gửi thông báo đến nhiều nơi cam kết vẫn cùng UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức cuộc thi HHTG 2010 và tài trợ một số sự kiện của Festival biển tại Nha Trang 2009 nhưng sẽ ngừng thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái Đầm Bấy, là một cử chỉ đang gây nhiều cảm xúc trong giới đầu tư”.
Không thể đến tận địa điểm sự việc, không được tiếp cận với những người trực tiếp liên quan cũng như những thông tin chính thức, người dân chỉ biết theo dõi qua báo chí. Nhưng ngay cả báo chí cũng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, người dân biết nghe ai?
Lúc này, có lẽ người dân chỉ còn chờ sự tham gia của các cơ quan quản lý. Những ý kiến xác đáng, với chứng cứ khoa học cụ thể từ các đơn vị có thẩm quyền sẽ giúp nhân dân đánh giá chính xác sự việc.
Mặc dù công ty Rass đã quyết định ngừng thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái Đầm Bấy nhưng những vấn đề của sự việc thì vẫn cần có câu trả lời.
Thứ nhất, việc đầu tư xây dựng vài trăm ha khu du lịch có ảnh hưởng đến toàn bộ vịnh Nha Trang và mức độ ảnh hưởng đến đâu?
Thứ hai, quyết định của NBND tỉnh Khánh Hòa tán thành đề xuất xây dựng của công ty Rass có vi phạm luật Di sản văn hóa?
Trả lời những câu hỏi đó, để không xảy ra một vụ việc “Đổi di sản lấy phù hoa?” (nếu có), và báo chí cũng không phải tốn giấy mực lao vào cuộc tranh cãi sai mục đích một lần nữa.
*
Đông Hải
Một “ông trùm” truyền thông Mỹ xin phá sản
Ngày 9/12, làng báo Mỹ xôn xao trước thông tin Tribune Company, một hãng báo chí và truyền thông có tên tuổi của nước này, nộp đơn xin phá sản.
Ông Sam Zell, Giám đốc Tribune Company, tỷ phú địa ốc làm báo - Ảnh: Reuters.
Đây được xem là lựa chọn duy nhất để hãng xuất bản các tờ The Los Angeles và The Chicago Tribune này có thể cơ cấu lại khoản nợ lên tới 13 tỷ USD.
Kinh tế suy thoái, kéo theo với sự sụt giảm mạnh mẽ của doanh số quảng cáo, cộng với những sai lầm trong quản lý là những lý do chính đẩy công ty có doanh số hàng năm 4 tỷ USD và hàng ngàn nhân viên này tới kết cục nói trên.
Ông Sam Zell, Giám đốc Tribune Company cho hay, công ty hiện vẫn có đủ tiền mặt để duy trì hoạt động của 12 tờ báo, 23 trung tâm truyền hình, kênh truyền hình cáp quốc gia và các loại dịch vụ truyền thông khác của hãng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh doanh thu sụt giảm và theo yêu cầu của các chủ nợ lớn, Tribune quyết định nộp đơn xin phá sản. Cũng theo ông Sam Zell, vụ phá sản sẽ không ảnh hưởng tới vấn đề lương bổng của công nhân viên cũng như hoạt động bình thường của công ty.
Suy thoái kinh tế cộng với xu thế chuyển quảng cáo sang các website đang khiến doanh số quảng cáo báo giấy ở Mỹ sụt giảm mạnh nhất kể từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay. Riêng doanh số quảng cáo trên các tờ báo in của Tribune đã giảm 19% trong quý 3. Một số tờ báo lớn ở Mỹ cũng đã vỡ nợ hoặc phải rao bán lại mà chẳng thể tìm nổi khách mua.
Tuy nhiên, bên cạnh khó khăn chung của ngành, Tribune còn có những rắc rối riêng.
Là một tỷ phú địa ốc ở Chicago, ông Sam Zell mới tiếp quản Chicago Tribune vào ngày 20/12/2007, tức là cách đây chưa đầy một năm. Sau khi nhậm chức, ông chủ này đã tiến hành tư nhân hóa công ty, đồng thời tăng gấp 3 số tiền vay nợ của công ty, khiến tình hình ngày càng tồi tệ.
Với chương trình tư nhân hóa trị giá 8,5 tỷ USD nói trên, toàn bộ số cổ phiếu của Tribune Company được mua lại. Nhân viên trở thành những người sở hữu công ty, nhưng lại không có tiếng nói và quyền quản lý trong công ty, mặc dù được hứa là sau này, họ sẽ được tiếp cận với cổ phần của mình và có thể bán lại cổ phần.
Ông Zell chi có 315 triệu USD để mua cổ phần trong công ty, nhưng lại giành quyền kiểm soát cả công ty, và có quyền mua lại tới 40% cổ phiếu của công ty trong tương lai.
Sau khi giành quyền kiểm soát, ông Zell thành lập một ban quản lý gồm những người cũng… giống ông, nghĩa là chẳng có kiến thức gì về báo chí. Trong quý 3 vừa qua, lợi nhuận hoạt động của cả công ty chỉ còn 37,1 triệu USD, so với mức 216,8 triệu USD cùn kỳ năm ngoái. Các tờ báo in của công ty trong quý 3 thua lỗ tổng số tiền 26,2 triệu USD.
Trong một năm qua, Tribune đã phải liên tục cắt giảm nhân viên và sản phẩm để có tiền trả nợ. Tháng 5 vừa qua, công ty này đã phải bán một trong những tờ báo đem lại nhiều lợi nhuận nhất của mình là tờ Newsday cho một công ty khác với giá 650 triệu USD.
Tribune cũng tìm cách bán lại đội bóng chày Chicago Cubs và sân vận động Wrigley Field của đội bóng để có tiền mặt, nhưng không thể tìm được khách mua.
Trong vòng một năm tới, Tribune phải trả số tiền lãi lên tới 900 triệu USD. Số tiền gốc tới hạn phải trả vào tháng 6/2009 là 512 triệu USD. Giới quan sát cho rằng, với những khoản nợ lớn bất thường như thế này, vụ phá sản của Tribune hoàn toàn không phải là báo hiệu cho một làn sóng phá sản trong làng báo Mỹ.
Tuần trước, Giám đốc Zell đã có cuộc họp với các chủ nợ chính của công ty là các ngân hàng Merrill Lynch, JP Morgan, Bank of America, Deutsche Bank và Citigroup. Đây đều là các chủ nợ được ưu tiên trả nợ trước trong trường hợp Tribune phá sản.
Trong cuộc họp này, ông Zell cảnh báo các chủ nợ rằng, nếu công ty cứ tiếp tục phải thanh toán nợ cho các chủ nợ nhỏ hơn, khả năng của họ trong việc trả nợ cho các chủ nợ lớn về sau sẽ bị giảm. Trước cảnh báo này, các chủ nợ lớn tham dự cuộc họp đành khuyên Tribune nộp đơn xin phá sản.
Với việc Tribune xin phá sản, công ty này cũng tuyên bố sẽ không thanh toán khoản nợ 69,55 triệu USD đến hạn vào ngày 8/12 này. Đây là khoản nợ của các chủ nợ nhỏ, không được ưu tiên thanh toán trong trường hợp phá sản.
Sam Zell khẳng định, vụ phá sản này sẽ đặt trọng tâm vào số tiền mà Tribune Company vay nợ, chứ không hề ảnh hưởng tới hoạt động của tờ báo. Tuy nhiên, giới quan sát vẫn tỏ ra lo ngại về tương lai của công ty truyền thông này.
Phá sản là hiện tượng có thể xem là rất hiếm trong làng báo, nhưng vụ phá sản của Tribune Company lại không khiến các nhà báo trong công ty này ngạc nhiên, vì họ đều biết rõ về ông chủ Zell và khả năng điều hành báo chí của ông. “Ở đây, nhân viên chẳng yêu mến gì ông Zell cả”, nhà báo Mitchell Landsberg của tờ Los Angeles Times cho hay.
Theo New York Times
Ông Sam Zell, Giám đốc Tribune Company, tỷ phú địa ốc làm báo - Ảnh: Reuters.
Đây được xem là lựa chọn duy nhất để hãng xuất bản các tờ The Los Angeles và The Chicago Tribune này có thể cơ cấu lại khoản nợ lên tới 13 tỷ USD.
Kinh tế suy thoái, kéo theo với sự sụt giảm mạnh mẽ của doanh số quảng cáo, cộng với những sai lầm trong quản lý là những lý do chính đẩy công ty có doanh số hàng năm 4 tỷ USD và hàng ngàn nhân viên này tới kết cục nói trên.
Ông Sam Zell, Giám đốc Tribune Company cho hay, công ty hiện vẫn có đủ tiền mặt để duy trì hoạt động của 12 tờ báo, 23 trung tâm truyền hình, kênh truyền hình cáp quốc gia và các loại dịch vụ truyền thông khác của hãng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh doanh thu sụt giảm và theo yêu cầu của các chủ nợ lớn, Tribune quyết định nộp đơn xin phá sản. Cũng theo ông Sam Zell, vụ phá sản sẽ không ảnh hưởng tới vấn đề lương bổng của công nhân viên cũng như hoạt động bình thường của công ty.
Suy thoái kinh tế cộng với xu thế chuyển quảng cáo sang các website đang khiến doanh số quảng cáo báo giấy ở Mỹ sụt giảm mạnh nhất kể từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay. Riêng doanh số quảng cáo trên các tờ báo in của Tribune đã giảm 19% trong quý 3. Một số tờ báo lớn ở Mỹ cũng đã vỡ nợ hoặc phải rao bán lại mà chẳng thể tìm nổi khách mua.
Tuy nhiên, bên cạnh khó khăn chung của ngành, Tribune còn có những rắc rối riêng.
Là một tỷ phú địa ốc ở Chicago, ông Sam Zell mới tiếp quản Chicago Tribune vào ngày 20/12/2007, tức là cách đây chưa đầy một năm. Sau khi nhậm chức, ông chủ này đã tiến hành tư nhân hóa công ty, đồng thời tăng gấp 3 số tiền vay nợ của công ty, khiến tình hình ngày càng tồi tệ.
Với chương trình tư nhân hóa trị giá 8,5 tỷ USD nói trên, toàn bộ số cổ phiếu của Tribune Company được mua lại. Nhân viên trở thành những người sở hữu công ty, nhưng lại không có tiếng nói và quyền quản lý trong công ty, mặc dù được hứa là sau này, họ sẽ được tiếp cận với cổ phần của mình và có thể bán lại cổ phần.
Ông Zell chi có 315 triệu USD để mua cổ phần trong công ty, nhưng lại giành quyền kiểm soát cả công ty, và có quyền mua lại tới 40% cổ phiếu của công ty trong tương lai.
Sau khi giành quyền kiểm soát, ông Zell thành lập một ban quản lý gồm những người cũng… giống ông, nghĩa là chẳng có kiến thức gì về báo chí. Trong quý 3 vừa qua, lợi nhuận hoạt động của cả công ty chỉ còn 37,1 triệu USD, so với mức 216,8 triệu USD cùn kỳ năm ngoái. Các tờ báo in của công ty trong quý 3 thua lỗ tổng số tiền 26,2 triệu USD.
Trong một năm qua, Tribune đã phải liên tục cắt giảm nhân viên và sản phẩm để có tiền trả nợ. Tháng 5 vừa qua, công ty này đã phải bán một trong những tờ báo đem lại nhiều lợi nhuận nhất của mình là tờ Newsday cho một công ty khác với giá 650 triệu USD.
Tribune cũng tìm cách bán lại đội bóng chày Chicago Cubs và sân vận động Wrigley Field của đội bóng để có tiền mặt, nhưng không thể tìm được khách mua.
Trong vòng một năm tới, Tribune phải trả số tiền lãi lên tới 900 triệu USD. Số tiền gốc tới hạn phải trả vào tháng 6/2009 là 512 triệu USD. Giới quan sát cho rằng, với những khoản nợ lớn bất thường như thế này, vụ phá sản của Tribune hoàn toàn không phải là báo hiệu cho một làn sóng phá sản trong làng báo Mỹ.
Tuần trước, Giám đốc Zell đã có cuộc họp với các chủ nợ chính của công ty là các ngân hàng Merrill Lynch, JP Morgan, Bank of America, Deutsche Bank và Citigroup. Đây đều là các chủ nợ được ưu tiên trả nợ trước trong trường hợp Tribune phá sản.
Trong cuộc họp này, ông Zell cảnh báo các chủ nợ rằng, nếu công ty cứ tiếp tục phải thanh toán nợ cho các chủ nợ nhỏ hơn, khả năng của họ trong việc trả nợ cho các chủ nợ lớn về sau sẽ bị giảm. Trước cảnh báo này, các chủ nợ lớn tham dự cuộc họp đành khuyên Tribune nộp đơn xin phá sản.
Với việc Tribune xin phá sản, công ty này cũng tuyên bố sẽ không thanh toán khoản nợ 69,55 triệu USD đến hạn vào ngày 8/12 này. Đây là khoản nợ của các chủ nợ nhỏ, không được ưu tiên thanh toán trong trường hợp phá sản.
Sam Zell khẳng định, vụ phá sản này sẽ đặt trọng tâm vào số tiền mà Tribune Company vay nợ, chứ không hề ảnh hưởng tới hoạt động của tờ báo. Tuy nhiên, giới quan sát vẫn tỏ ra lo ngại về tương lai của công ty truyền thông này.
Phá sản là hiện tượng có thể xem là rất hiếm trong làng báo, nhưng vụ phá sản của Tribune Company lại không khiến các nhà báo trong công ty này ngạc nhiên, vì họ đều biết rõ về ông chủ Zell và khả năng điều hành báo chí của ông. “Ở đây, nhân viên chẳng yêu mến gì ông Zell cả”, nhà báo Mitchell Landsberg của tờ Los Angeles Times cho hay.
Theo New York Times
3/12/08
Nghệ thuật thời... PR
(VNAD) - Khi tất cả các loại hình nghệ thuật đều bình đẳng trước khán giả, khi các "thượng đế" ngày càng kén cá chọn canh trong việc thưởng thức những món ăn tinh thần thì việc tự đánh bóng mỗi tác phẩm nghệ thuật truớc khi trình làng bằng các chiến dịch PR cũng là điều hết sức cần thiết.
Phim Dòng máu anh hùng
1001 kiểu PR
Dễ nhận thấy nhất có lẽ phải kể đến các chương trình truyền hình. Ngày nay hễ một gameshow hay một bộ phim nào chuẩn bị phát sóng là trước đó đã được các "nhà đài" quảng bá, giới thiệu. Chưa kể thỉnh thoảng khi xem các phim truyện trong giờ vàng, người ta còn bắt gặp các dòng chữ chạy bên dưới giới thiệu những bộ phim đang trình chiếu... Để thu hút khán giả, các đài còn thường xuyên đưa ra các câu hỏi tương tác, trả lời qua tin nhắn với các phần quà hấp dẫn.
Các bộ phim chiếu rạp lại cần các chiến dịch PR rầm rộ, thậm chí tốn bạc tỷ. Không ngoa khi nói các bộ phim như Dòng máu anh hùng, Nụ hôn thần chết, Em muốn là người nổi tiếng... thành công về doanh thu một phần lớn là nhờ các chiến dịch PR tốt. Em muốn làm người nổi tiếng đã có những chiêu tiếp thị tích cực từ một năm trước khi phim ra đời như: tổ chức cuộc thi viết ca khúc chính cho phim; lễ ra mắt đoàn làm phim khá rầm rộ... Trong khi đó, Nụ hôn thần chết lại quảng bá dàn ngôi sao thuộc nhiều lĩnh vực tham gia: người mẫu Thanh Hằng, Trí Nguyễn, Tommy, diễn viên hài Hoài Linh, Thành Lộc, đạo diễn Vũ Ngọc Đăng, ca sĩ Phương Thanh, Thuỷ Tiên... và tận dụng tối đa tiện ích của việc tiếp thị trên blog.
Từ khi chưa bấm máy, tác giả - đạo diễn Nguyễn Quang Dũng đã công khai tất tật nội dung kịch bản trên blog cho cư dân mạng xem trước và bình luận. Hãng phim Thiên Ngân "xây dựng" một phim trường ảo tại địa chỉ Cyworld.vn/nuhonthanchet, và post lên đó đủ thứ chuyện mỗi ngày để người xem có dịp "theo chân" đoàn làm phim. Bộ phim Duyên trần thoát tục cũng đã góp thêm cho chiến dịch PR một chiêu có thể nói không giống ai: Bán vé ở các chùa, và có xe đưa đón ở các điểm đông người mua vé, doanh thu của bộ phim 100% làm từ thiện...
"Thánh đường" sân khấu ngày nay cũng phải tìm mọi cách chiều chuộng và lôi kéo khán giả về với mình. Sân khấu kịch Sài Gòn hễ có ai gọi điện đến đặt vé xem kịch là nhân viên phụ trách sẽ lưu lại số điện thoại và sau đó hễ có vở diễn mới sẽ nhắn tin thông báo.
Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng có đối tượng phục vụ chủ yếu là khách du lịch nước ngoài nên "ông bầu" thường xuyên cho phát tờ rơi tại các khách sạn, bảo tàng... Chưa kể nhiều sân khấu còn kết hợp với các nhà tài trợ tổ chức những chương trình khuyến mại trúng tivi, máy điều hoà... để lôi kéo khán giả.
Đâu là giá trị đích thực của PR nghệ thuật?
Những băng rôn chen chúc các ngôi sao giăng mắc khắp nơi, những lời nói qua để gợi trí tò mò, những câu hỏi úp mở về cảnh nóng, về các pha mạo hiểm đánh vào thị hiếu khán giả... khán giả như những con cá mắc câu vì miếng mồi hấp dẫn tự tìm đến rạp để rồi thất vọng. Đó là khi người ta tự đồng nghĩa PR với "nổ", với khoác lác. Bài học từ các chiến dịch PR của Chuông reo là bắn, Khi đàn ông có bầu vẫn còn đó và vẫn chưa bao giờ là bài học lỗi thời khi các nhà sản xuất vẫn đang không ngừng nói quá về những tác phẩm nghệ thuật sắp sửa trình làng.
Không thể phủ nhận những ưu điểm, những lợi thế tất yếu mà các chiến dịch PR đã mang lại cho nghệ thuật trong thời buổi thị trường cạnh tranh. Song những lời "mèo khen mèo dài đuôi" mà cái đuôi thực tế không dài, thì vẫn là điều khó có thể chấp nhận.
Có những tác phẩm điện ảnh, như Áo lụa Hà Đông là một ví dụ, chẳng cần bỏ ra hàng tỷ đồng cho quảng cáo, poster bình dị với hình ảnh nhân vật nữ chính áo nau bạc màu rách rưới, ôm đứa con đã chết trên tay hét lên đau đớn đã thu hút khán giả đến rạp và lấy biết bao nước mắt của người xe. Và còn đó rất nhiều thước phim, vở kịch ghi tạc trong lòng công chúng và họ luôn mong chờ được thưởng thức mà không cần tivi, tủ lạnh... đính kèm các tin nhắn dự đoán hay bốc thăm.
Vậy mới hay, đỉnh cao của nghệ thuật PR vẫn phải là những chiến dịch dựa trên các giá trị nghệ thuật đích thực gửi gắm trong từng tác phẩm, qua từng nét diễn xuất thần của diễn viên, thấm từ các câu thoại sâu sắc của soạn giả...
Theo VTV
Phim Dòng máu anh hùng
1001 kiểu PR
Dễ nhận thấy nhất có lẽ phải kể đến các chương trình truyền hình. Ngày nay hễ một gameshow hay một bộ phim nào chuẩn bị phát sóng là trước đó đã được các "nhà đài" quảng bá, giới thiệu. Chưa kể thỉnh thoảng khi xem các phim truyện trong giờ vàng, người ta còn bắt gặp các dòng chữ chạy bên dưới giới thiệu những bộ phim đang trình chiếu... Để thu hút khán giả, các đài còn thường xuyên đưa ra các câu hỏi tương tác, trả lời qua tin nhắn với các phần quà hấp dẫn.
Các bộ phim chiếu rạp lại cần các chiến dịch PR rầm rộ, thậm chí tốn bạc tỷ. Không ngoa khi nói các bộ phim như Dòng máu anh hùng, Nụ hôn thần chết, Em muốn là người nổi tiếng... thành công về doanh thu một phần lớn là nhờ các chiến dịch PR tốt. Em muốn làm người nổi tiếng đã có những chiêu tiếp thị tích cực từ một năm trước khi phim ra đời như: tổ chức cuộc thi viết ca khúc chính cho phim; lễ ra mắt đoàn làm phim khá rầm rộ... Trong khi đó, Nụ hôn thần chết lại quảng bá dàn ngôi sao thuộc nhiều lĩnh vực tham gia: người mẫu Thanh Hằng, Trí Nguyễn, Tommy, diễn viên hài Hoài Linh, Thành Lộc, đạo diễn Vũ Ngọc Đăng, ca sĩ Phương Thanh, Thuỷ Tiên... và tận dụng tối đa tiện ích của việc tiếp thị trên blog.
Từ khi chưa bấm máy, tác giả - đạo diễn Nguyễn Quang Dũng đã công khai tất tật nội dung kịch bản trên blog cho cư dân mạng xem trước và bình luận. Hãng phim Thiên Ngân "xây dựng" một phim trường ảo tại địa chỉ Cyworld.vn/nuhonthanchet, và post lên đó đủ thứ chuyện mỗi ngày để người xem có dịp "theo chân" đoàn làm phim. Bộ phim Duyên trần thoát tục cũng đã góp thêm cho chiến dịch PR một chiêu có thể nói không giống ai: Bán vé ở các chùa, và có xe đưa đón ở các điểm đông người mua vé, doanh thu của bộ phim 100% làm từ thiện...
"Thánh đường" sân khấu ngày nay cũng phải tìm mọi cách chiều chuộng và lôi kéo khán giả về với mình. Sân khấu kịch Sài Gòn hễ có ai gọi điện đến đặt vé xem kịch là nhân viên phụ trách sẽ lưu lại số điện thoại và sau đó hễ có vở diễn mới sẽ nhắn tin thông báo.
Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng có đối tượng phục vụ chủ yếu là khách du lịch nước ngoài nên "ông bầu" thường xuyên cho phát tờ rơi tại các khách sạn, bảo tàng... Chưa kể nhiều sân khấu còn kết hợp với các nhà tài trợ tổ chức những chương trình khuyến mại trúng tivi, máy điều hoà... để lôi kéo khán giả.
Đâu là giá trị đích thực của PR nghệ thuật?
Những băng rôn chen chúc các ngôi sao giăng mắc khắp nơi, những lời nói qua để gợi trí tò mò, những câu hỏi úp mở về cảnh nóng, về các pha mạo hiểm đánh vào thị hiếu khán giả... khán giả như những con cá mắc câu vì miếng mồi hấp dẫn tự tìm đến rạp để rồi thất vọng. Đó là khi người ta tự đồng nghĩa PR với "nổ", với khoác lác. Bài học từ các chiến dịch PR của Chuông reo là bắn, Khi đàn ông có bầu vẫn còn đó và vẫn chưa bao giờ là bài học lỗi thời khi các nhà sản xuất vẫn đang không ngừng nói quá về những tác phẩm nghệ thuật sắp sửa trình làng.
Không thể phủ nhận những ưu điểm, những lợi thế tất yếu mà các chiến dịch PR đã mang lại cho nghệ thuật trong thời buổi thị trường cạnh tranh. Song những lời "mèo khen mèo dài đuôi" mà cái đuôi thực tế không dài, thì vẫn là điều khó có thể chấp nhận.
Có những tác phẩm điện ảnh, như Áo lụa Hà Đông là một ví dụ, chẳng cần bỏ ra hàng tỷ đồng cho quảng cáo, poster bình dị với hình ảnh nhân vật nữ chính áo nau bạc màu rách rưới, ôm đứa con đã chết trên tay hét lên đau đớn đã thu hút khán giả đến rạp và lấy biết bao nước mắt của người xe. Và còn đó rất nhiều thước phim, vở kịch ghi tạc trong lòng công chúng và họ luôn mong chờ được thưởng thức mà không cần tivi, tủ lạnh... đính kèm các tin nhắn dự đoán hay bốc thăm.
Vậy mới hay, đỉnh cao của nghệ thuật PR vẫn phải là những chiến dịch dựa trên các giá trị nghệ thuật đích thực gửi gắm trong từng tác phẩm, qua từng nét diễn xuất thần của diễn viên, thấm từ các câu thoại sâu sắc của soạn giả...
Theo VTV
Một chiến lược PR độc đáo
(VNAD) - Để có được vị trí thương hiệu cho doanh nghiệp của mình trong lòng mọi người là điều không hề đơn giản, nhất là những doanh nghiệp mới, đang đi những bước chân chập chững vào thương trường. Thế nhưng bằng phương thức khác biệt, công ty cổ phần hợp tác phát triển quốc tế Green Valley có một cách tiếp cận thị trường và xây dựng thương hiệu của mình khá độc đáo.
Ảnh minh hoạ
Green Valley là doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm trong lĩnh vực y học cổ truyền, các sản phẩm bảo vệ sức khỏe, sắc đẹp, sản phẩm thời trang, hàng tiêu dùng, trang thiết bị y tế… tuy mới đi vào hoạt động nhưng đội ngũ lãnh đạo của Green Valley đã có một chiến lược xây dựng thương hiệu và kế hoạch kinh doanh bước đầu rất hiệu quả.
Nắm bắt được nhu cầu bảo vệ sức khỏe của người dân. Kế thừa và phát huy phương pháp luyện tập cổ truyền đặc sắc. Dưới sự hỗ trợ của Hội đồng cố vấn chuyên môn của công ty. Green Valley cùng với đội ngũ hướng dẫn viên, tình nguyện viên của mình đã và đang triển khai, hướng dẫn thành công một phương pháp luyện tập độc đáo bảo vệ sức khỏe cho mọi người, đó là bài tập Dưỡng Sinh Kinh Lạc Green Valley. Đây là cách luyện tập đơn giản nhưng rất hiệu quả cho sức khỏe. Các cộng tác viên của Green Valley tình nguyện hướng dẫn cho mọi người hoàn toàn miễn phí, bài tập Green Valley đã được triển khai rộng rãi ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, những người luyện tập lên đến hàng chục nghìn người. Phong trào tập bài tập dưỡng sinh kinh lạc Green Valley đang lan rộng và được rất nhiều người yêu thích. Vào những buổi sáng sớm và chiều tối tại các công viên, khu dân cư hay một sân bãi đủ rộng, mọi người cùng nhau đứng thành hàng, thành lớp, luyện tập vui vẻ và còn giúp đỡ nhau các vấn đề của cuộc sống
Được biết, đây chỉ là một trong những phương thức tiếp cận thị trường và xây dựng thương hiệu của công ty. Trong thời gian tới, Green Valley sẽ tiếp tục đầu tư nhiều hơn nữa cho kế hoạch kinh doanh của mình với mong muốn sẽ mang lại những lợi ích tích cực cho người tiêu dùng. Bằng sự phát triển của mình, Green Valley đã góp phần không nhỏ vào phong trào xây dựng văn hóa xã hội đồng thời góp phần xây dựng và nâng cao ý thức sức khỏe toàn dân.
Với những bước đi đúng đắn để định vị thương hiệu của mình trong lòng công chúng. Tin rằng Green Valley sẽ còn những bước tiến xa, chắc chắn và vững vàng hơn nữa trong sự nghiệp kinh doanh cũng như sự nghiệp cộng đồng của mình./.
Theo VENO
Ảnh minh hoạ
Green Valley là doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm trong lĩnh vực y học cổ truyền, các sản phẩm bảo vệ sức khỏe, sắc đẹp, sản phẩm thời trang, hàng tiêu dùng, trang thiết bị y tế… tuy mới đi vào hoạt động nhưng đội ngũ lãnh đạo của Green Valley đã có một chiến lược xây dựng thương hiệu và kế hoạch kinh doanh bước đầu rất hiệu quả.
Nắm bắt được nhu cầu bảo vệ sức khỏe của người dân. Kế thừa và phát huy phương pháp luyện tập cổ truyền đặc sắc. Dưới sự hỗ trợ của Hội đồng cố vấn chuyên môn của công ty. Green Valley cùng với đội ngũ hướng dẫn viên, tình nguyện viên của mình đã và đang triển khai, hướng dẫn thành công một phương pháp luyện tập độc đáo bảo vệ sức khỏe cho mọi người, đó là bài tập Dưỡng Sinh Kinh Lạc Green Valley. Đây là cách luyện tập đơn giản nhưng rất hiệu quả cho sức khỏe. Các cộng tác viên của Green Valley tình nguyện hướng dẫn cho mọi người hoàn toàn miễn phí, bài tập Green Valley đã được triển khai rộng rãi ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, những người luyện tập lên đến hàng chục nghìn người. Phong trào tập bài tập dưỡng sinh kinh lạc Green Valley đang lan rộng và được rất nhiều người yêu thích. Vào những buổi sáng sớm và chiều tối tại các công viên, khu dân cư hay một sân bãi đủ rộng, mọi người cùng nhau đứng thành hàng, thành lớp, luyện tập vui vẻ và còn giúp đỡ nhau các vấn đề của cuộc sống
Được biết, đây chỉ là một trong những phương thức tiếp cận thị trường và xây dựng thương hiệu của công ty. Trong thời gian tới, Green Valley sẽ tiếp tục đầu tư nhiều hơn nữa cho kế hoạch kinh doanh của mình với mong muốn sẽ mang lại những lợi ích tích cực cho người tiêu dùng. Bằng sự phát triển của mình, Green Valley đã góp phần không nhỏ vào phong trào xây dựng văn hóa xã hội đồng thời góp phần xây dựng và nâng cao ý thức sức khỏe toàn dân.
Với những bước đi đúng đắn để định vị thương hiệu của mình trong lòng công chúng. Tin rằng Green Valley sẽ còn những bước tiến xa, chắc chắn và vững vàng hơn nữa trong sự nghiệp kinh doanh cũng như sự nghiệp cộng đồng của mình./.
Theo VENO
Nghề Quan hệ công chúng cần luật
(VNAD) - Hiện chưa có NV quan hệ công chúng được đào tạo bài bản tại một trường ĐH ở VN. Khóa đầu tiên của ngành này tại HV Báo chí & Tuyên truyền vẫn chưa ra trường.
Ngành PR (Public Relations - Quan hệ công chúng) ở VN gần đây có sự phát triển mạnh. Nhưng cùng những hoạt động PR chân chính, vẫn còn các chiến dịch tiếp thị hình ảnh phóng đại, thông tin không minh bạch.
Ảnh hưởng lớn đến dư luận, vậy mà nghề PR vẫn chưa có quy định hoạt động và hành lang pháp lý.
Luật: Mỗi nơi một ít
VN hiện có hơn 150 Cty hoạt động PR, các Cty trong nước chiếm tới 95% thị phần, thậm chí nhiều Cty đăng ký kinh doanh dịch vụ khác nhưng cũng nhảy sang làm PR. Ngoài những Cty tên tuổi được khẳng định qua các sự kiện ảnh hưởng tốt đến xã hội còn nhiều Cty làm ăn chụp giật. Những người cung cấp dịch vụ đã bỏ qua những rào cản, cạnh tranh không lành mạnh, thông tin dễ dãi, lợi dụng mặt trái của PR để đưa ra những thông tin bất lợi cho đối thủ.
Công chúng là người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi giữa một "biển" thông tin, đánh bóng thương hiệu, tên tuổi thái quá, khó có thể tìm được một địa chỉ tin cậy. Xảy ra tình trạng trên bởi chưa có luật định hoạt động PR. Theo luật sư Lê Kim Giang (Văn phòng luật sư Hưng Giang), tuy chưa có luật cụ thể nhưng những người làm PR vẫn phải tuân theo các nguyên tắc hành nghề nhất định. Các quy định nằm rải rác mỗi nơi một ít luật như: Doanh nghiệp, Báo chí, Sở hữu trí tuệ, Cạnh tranh, Dân sự...
Hoạt động đa dạng nên người làm PR phải hiểu quy định cụ thể trong lĩnh vực của sự kiện thực hiện. Nguyễn Thu Thuỷ - NV PR Cty P&T Media cho biết: "Cty thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng PR, nhưng các quy định về luật thì chúng tôi phải tự tìm hiểu, thu thập kiến thức ở các kênh thông tin. Mỗi một sự kiện lại liên quan đến các điều luật khác nhau nên rất cần nắm rõ quy định".
Hiệp hội nghề: Rất cần
Đó là ý kiến của bà Đinh Thị Thuý Hằng - Trưởng khoa Quảng cáo và Quan hệ công chúng, Học viện Báo chí & Tuyên truyền. Theo bà Hằng, VN cần sớm có một luật về quan hệ công chúng bao gồm các nguyên tắc, chuẩn mực khung định hướng các hoạt động PR, phương tiện PR, quy trình thực hiện PR. Luật này phải đảm bảo tính tương thích với hệ thống pháp luật trong nước, tương thích với các quy định của PR quốc tế khi hội nhập. Muốn thực hiện được điều đó, cần thành lập hiệp hội nghề quan hệ công chúng để có hành lang pháp lý cụ thể, bảo vệ người làm PR và khách hàng.
Hiện chưa có NV quan hệ công chúng được đào tạo bài bản tại một trường ĐH ở VN. Khóa đầu tiên của ngành này tại HV Báo chí & Tuyên truyền vẫn chưa ra trường. Giáo trình giảng dạy chủ yếu do các thầy cô trong khoa tự biên soạn, chỉ có một môn học là "Đạo đức nghề PR" cung cấp cho SV những nguyên tắc hoạt động. Vì vậy, sự ra đời của Luật Quan hệ công chúng sẽ giúp những người làm PR chuyên nghiệp trong tương lai có điều kiện tiếp cận sớm và hoạt động hiệu quả hơn.
Theo Lao Động
Ngành PR (Public Relations - Quan hệ công chúng) ở VN gần đây có sự phát triển mạnh. Nhưng cùng những hoạt động PR chân chính, vẫn còn các chiến dịch tiếp thị hình ảnh phóng đại, thông tin không minh bạch.
Ảnh hưởng lớn đến dư luận, vậy mà nghề PR vẫn chưa có quy định hoạt động và hành lang pháp lý.
Luật: Mỗi nơi một ít
VN hiện có hơn 150 Cty hoạt động PR, các Cty trong nước chiếm tới 95% thị phần, thậm chí nhiều Cty đăng ký kinh doanh dịch vụ khác nhưng cũng nhảy sang làm PR. Ngoài những Cty tên tuổi được khẳng định qua các sự kiện ảnh hưởng tốt đến xã hội còn nhiều Cty làm ăn chụp giật. Những người cung cấp dịch vụ đã bỏ qua những rào cản, cạnh tranh không lành mạnh, thông tin dễ dãi, lợi dụng mặt trái của PR để đưa ra những thông tin bất lợi cho đối thủ.
Công chúng là người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi giữa một "biển" thông tin, đánh bóng thương hiệu, tên tuổi thái quá, khó có thể tìm được một địa chỉ tin cậy. Xảy ra tình trạng trên bởi chưa có luật định hoạt động PR. Theo luật sư Lê Kim Giang (Văn phòng luật sư Hưng Giang), tuy chưa có luật cụ thể nhưng những người làm PR vẫn phải tuân theo các nguyên tắc hành nghề nhất định. Các quy định nằm rải rác mỗi nơi một ít luật như: Doanh nghiệp, Báo chí, Sở hữu trí tuệ, Cạnh tranh, Dân sự...
Hoạt động đa dạng nên người làm PR phải hiểu quy định cụ thể trong lĩnh vực của sự kiện thực hiện. Nguyễn Thu Thuỷ - NV PR Cty P&T Media cho biết: "Cty thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng PR, nhưng các quy định về luật thì chúng tôi phải tự tìm hiểu, thu thập kiến thức ở các kênh thông tin. Mỗi một sự kiện lại liên quan đến các điều luật khác nhau nên rất cần nắm rõ quy định".
Hiệp hội nghề: Rất cần
Đó là ý kiến của bà Đinh Thị Thuý Hằng - Trưởng khoa Quảng cáo và Quan hệ công chúng, Học viện Báo chí & Tuyên truyền. Theo bà Hằng, VN cần sớm có một luật về quan hệ công chúng bao gồm các nguyên tắc, chuẩn mực khung định hướng các hoạt động PR, phương tiện PR, quy trình thực hiện PR. Luật này phải đảm bảo tính tương thích với hệ thống pháp luật trong nước, tương thích với các quy định của PR quốc tế khi hội nhập. Muốn thực hiện được điều đó, cần thành lập hiệp hội nghề quan hệ công chúng để có hành lang pháp lý cụ thể, bảo vệ người làm PR và khách hàng.
Hiện chưa có NV quan hệ công chúng được đào tạo bài bản tại một trường ĐH ở VN. Khóa đầu tiên của ngành này tại HV Báo chí & Tuyên truyền vẫn chưa ra trường. Giáo trình giảng dạy chủ yếu do các thầy cô trong khoa tự biên soạn, chỉ có một môn học là "Đạo đức nghề PR" cung cấp cho SV những nguyên tắc hoạt động. Vì vậy, sự ra đời của Luật Quan hệ công chúng sẽ giúp những người làm PR chuyên nghiệp trong tương lai có điều kiện tiếp cận sớm và hoạt động hiệu quả hơn.
Theo Lao Động
PR - Sứ giả thương hiệu của marketing hiện đại
(VNAD) - Theo ý kiến của các Nhà quản lý Thương hiệu tại các Công ty đa quốc gia, PR là công cụ được sử dụng hữu hiệu nhất trong quá trình thiết lâp lòng tin, xây dựng tính công bằng, duy trì sức mạnh và sức sống của một Thương hiệu.
Các Giám đốc Thương hiệu cũng sử dụng PR rộng rãi gắn với tất cả các lĩnh vực của marketing, bao gồm: Quảng cáo, Xúc tiến bán, Phương tiện truyền thông mới/Internet nhằm hướng tới sự thành công trong quá trình marketing thương hiệu. Đây là những phát hiện rút ra từ một cuộc điều tra của hãng M Booth & Associates, Mỹ. Cuộc điều tra được tiến hành với hơn 100 Giám đốc Thương hiệu có uy tín tại các công ty hàng đầu Hoa Kỳ nhằm nghiên cứu thái độ của họ về tầm quan trọng của Quan hệ công chúng đối với một Thương hiệu.
Theo cuộc điều tra này, 90% các Giám đốc Thương hiệu được hỏi có sử dụng PR trong công tác marketing thương hiệu. PR được các Giám đốc Thương hiệu đánh giá cao nhất trong việc đạt được một số mục tiêu Thương hiệu trọng điểm, bao gồm: mục tiêu “Xây dựng tính công bằng hay giá trị Thương hiệu” chiếm 44% số người được hỏi; 40% ủng hộ mục tiêu “Thiết lập độ tin cậy của Thương hiệu”; và 33% bỏ phiếu cho mục tiêu “Duy trì sức mạnh và sức sống cho một Thương hiệu”, cuộc điều tra được tiến hành độc lập theo các mục tiêu Thương hiệu cụ thể.
Các Nhà Quản lý Thương hiệu cũng đánh giá cao PR trong mối quan hệ với các nguyên lý marketing khác nhằm đạt mục tiêu xây dựng thương hiệu của họ. Họ xếp hạng PR cao hơn Quảng cáo, Xúc tiến bán, Phương tiện truyền thông mới/Internet trong 5 trên 12 mục tiêu xây dựng Thương hiệu, bao gồm: Thiết lập độ tin cậy của Thương hiệu (51%); Gắn Thương hiệu với một tình huống cụ thể (51%); Tiếp tục tiến trình ngay cả khi các phương tiện truyền thông truyền thống không còn tính sử dụng (44%); Biểu hiện sử ủng hộ của bên thứ 3 (39%); Đem lại nhiều ảnh hưởng hơn dưới góc độ chi phí Marketing (35%).
Ông Nguyễn Thanh Sơn – Giám đốc Công ty T&A Việt Nam khẳng định: “PR chính là điểm nhấn trong chiến lược xây dựng thành công một Thương hiệu”. Nắm vững được ý nghĩa và cách thức thúc đẩy nguồn nội lực của PR - “Sứ giả Thương hiệu” trong chiến dịch Marketing Thương hiệu, các Giám đốc Thương hiệu đã có được 42% cơ hội thành công trong nhiệm vụ của mình.
Các Giám đốc Thương hiệu cũng sử dụng PR rộng rãi gắn với tất cả các lĩnh vực của marketing, bao gồm: Quảng cáo, Xúc tiến bán, Phương tiện truyền thông mới/Internet nhằm hướng tới sự thành công trong quá trình marketing thương hiệu. Đây là những phát hiện rút ra từ một cuộc điều tra của hãng M Booth & Associates, Mỹ. Cuộc điều tra được tiến hành với hơn 100 Giám đốc Thương hiệu có uy tín tại các công ty hàng đầu Hoa Kỳ nhằm nghiên cứu thái độ của họ về tầm quan trọng của Quan hệ công chúng đối với một Thương hiệu.
Theo cuộc điều tra này, 90% các Giám đốc Thương hiệu được hỏi có sử dụng PR trong công tác marketing thương hiệu. PR được các Giám đốc Thương hiệu đánh giá cao nhất trong việc đạt được một số mục tiêu Thương hiệu trọng điểm, bao gồm: mục tiêu “Xây dựng tính công bằng hay giá trị Thương hiệu” chiếm 44% số người được hỏi; 40% ủng hộ mục tiêu “Thiết lập độ tin cậy của Thương hiệu”; và 33% bỏ phiếu cho mục tiêu “Duy trì sức mạnh và sức sống cho một Thương hiệu”, cuộc điều tra được tiến hành độc lập theo các mục tiêu Thương hiệu cụ thể.
Các Nhà Quản lý Thương hiệu cũng đánh giá cao PR trong mối quan hệ với các nguyên lý marketing khác nhằm đạt mục tiêu xây dựng thương hiệu của họ. Họ xếp hạng PR cao hơn Quảng cáo, Xúc tiến bán, Phương tiện truyền thông mới/Internet trong 5 trên 12 mục tiêu xây dựng Thương hiệu, bao gồm: Thiết lập độ tin cậy của Thương hiệu (51%); Gắn Thương hiệu với một tình huống cụ thể (51%); Tiếp tục tiến trình ngay cả khi các phương tiện truyền thông truyền thống không còn tính sử dụng (44%); Biểu hiện sử ủng hộ của bên thứ 3 (39%); Đem lại nhiều ảnh hưởng hơn dưới góc độ chi phí Marketing (35%).
Ông Nguyễn Thanh Sơn – Giám đốc Công ty T&A Việt Nam khẳng định: “PR chính là điểm nhấn trong chiến lược xây dựng thành công một Thương hiệu”. Nắm vững được ý nghĩa và cách thức thúc đẩy nguồn nội lực của PR - “Sứ giả Thương hiệu” trong chiến dịch Marketing Thương hiệu, các Giám đốc Thương hiệu đã có được 42% cơ hội thành công trong nhiệm vụ của mình.
Chiến dịch truyền thông cổ động đội mũ bảo hiểm tại Việt Nam giành hai giải thưởng danh giá
(VNAD) - Chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao ý thức đội mũ bảo hiểm của người dân Việt Nam do công ty Ogilvy & Mather Việt Nam thực hiện vừa được trao giải Bạc tại IPA Effectiveness Awards (Giải thưởng Hiệu quả truyền thông IPA) và giải “Tiếp thị hiệu quả trên thị trường đơn nhất quốc tế” (Best International Single Market) vì hiệu ứng xã hội sâu sắc mà chiến dịch này mang lại cho Việt Nam.
Poster truyền thông cho sự kiện đội mũ bảo hiểm tại Việt Nam
Giải “Tiếp thị hiệu quả trên thị trường đơn nhất quốc tế” là một trong những giải thưởng danh giá nhất, nhằm vinh danh các chiến dịch truyền thông mang tính hiệu quả cao tại các thị trường đơn nhất nằm ngoài phạm vi thị trườngAnh Quốc.
Công ty Ogilvy & Mather Việt Nam được trao 2 giải thưởng danh giá nhất trong lĩnh vực truyền thông tiếp thị tại đêm trao giải IPA Effectiveness Awards tại Hurlingham Club – Luân Đôn. Đây là giải thưởng hàng năm được chọn lựa và tổ chức bởi Hiệp hội chuyên viên quảng cáo (the Institute of Practitioners in Advertising) tại Anh Quốc. Giải thưởng ra đời tại Anh Quốc vào năm 1980, được công nhận là giải thưởng khắt khe nhất bởi các công ty truyền thông, quảng cáo và khách hàng.
Đây là năm đầu tiên mà các chiến dịch tiếp thị từ Châu Á đạt được giải thưởng này. Cả 2 chiến dịch này đều đến từ tập đoàn Ogilvy & Mather, 1 từ văn phòng Ogilvy & Mather Bắc Kinh và chiến dịch còn lại đến từ công ty Ogilvy & Mather Việt Nam.
Ông Alex Clegg, Giám đốc Điều hành Ogilvy & Mather Việt Nam chia sẻ: “Chúng tôi tự hào không chỉ tạo nên một hiệu ứng xã hội rộng lớn giúp người dân Việt Nam nâng cao ý thức đội mũ bảo hiểm khi điều khiển phương tiện giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông và những tổn hại do tai nạn giao thông mang lại cho gia đình và xã hội. Chúng tôi còn tự hào hơn vì với chiến dịch truyền thông này, giới quảng cáo và truyền thông tiếp thị thế giới đã biết đến Việt Nam, từ đó Việt Nam được đánh giá cao và có một chỗ đứng xứng tầm. Giải thưởng này không chỉ ghi nhận sự nỗ lực của Ogilvy & Mather Việt Nam, AIPF mà còn của các cá nhân, tổ chức đã nỗ lực nhằm cải thiện nhận thức và nâng cao ý thức của người dân Việt Nam đối với việc giảm thiểu thương vong do tai nạn giao thông tại Việt Nam”
Chiến dịch đội mũ bảo hiểm được thực hiện cho Quỹ phòng chống thương vong Châu Á (AIPF) với mục đích khuyến khích người dân đội mũ bảo hiểm nhằm cổ động an toàn giao thông khi mà trước đây chỉ có 3 % trong số 21 triệu người đi xe máy đội mũ bảo hiểm khi tham gia lưu thông. Chiến lược sáng tạo của công ty Ogilvy & Mather Việt Nam được chuyển thành một chiến dịch sử dụng các kênh quảng cáo trên xe buýt công cộng, quảng cáo ngoài trời, quảng cáo truyền hình, báo chí và online đã tạo nên một chiến dịch đưa ra những lời biện hộ thường gặp cho việc không đội mũ bảo hiểm và hình tượng hóa các hậu quả có thể xảy đến sau đó. Chiến dịch đã nhân ba số người đội mũ bảo hiểm và đã làm giảm thiểu đáng kể các vụ tử vong do tai nạn giao thông và đảm bảo 99% tỉ lệ người dân tuân thủ quy định đội mũ bảo hiểm tại Việt Nam.
IPA Effectiveness Awards là giải thưởng được mở rộng cho các đối tượng là các công ty quảng cáo, đơn vị sở hữu truyền thông và các khách hàng trên toàn thế giới. Các ứng viên sau khi nộp tài liệu tham gia cuộc thi sẽ được một đội ngũ các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong ngành truyền thông tham gia đánh giá và lựa chọn dựa trên hiệu quả thực tế mà nó mang lại.
Theo VnMedia
Poster truyền thông cho sự kiện đội mũ bảo hiểm tại Việt Nam
Giải “Tiếp thị hiệu quả trên thị trường đơn nhất quốc tế” là một trong những giải thưởng danh giá nhất, nhằm vinh danh các chiến dịch truyền thông mang tính hiệu quả cao tại các thị trường đơn nhất nằm ngoài phạm vi thị trườngAnh Quốc.
Công ty Ogilvy & Mather Việt Nam được trao 2 giải thưởng danh giá nhất trong lĩnh vực truyền thông tiếp thị tại đêm trao giải IPA Effectiveness Awards tại Hurlingham Club – Luân Đôn. Đây là giải thưởng hàng năm được chọn lựa và tổ chức bởi Hiệp hội chuyên viên quảng cáo (the Institute of Practitioners in Advertising) tại Anh Quốc. Giải thưởng ra đời tại Anh Quốc vào năm 1980, được công nhận là giải thưởng khắt khe nhất bởi các công ty truyền thông, quảng cáo và khách hàng.
Đây là năm đầu tiên mà các chiến dịch tiếp thị từ Châu Á đạt được giải thưởng này. Cả 2 chiến dịch này đều đến từ tập đoàn Ogilvy & Mather, 1 từ văn phòng Ogilvy & Mather Bắc Kinh và chiến dịch còn lại đến từ công ty Ogilvy & Mather Việt Nam.
Ông Alex Clegg, Giám đốc Điều hành Ogilvy & Mather Việt Nam chia sẻ: “Chúng tôi tự hào không chỉ tạo nên một hiệu ứng xã hội rộng lớn giúp người dân Việt Nam nâng cao ý thức đội mũ bảo hiểm khi điều khiển phương tiện giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông và những tổn hại do tai nạn giao thông mang lại cho gia đình và xã hội. Chúng tôi còn tự hào hơn vì với chiến dịch truyền thông này, giới quảng cáo và truyền thông tiếp thị thế giới đã biết đến Việt Nam, từ đó Việt Nam được đánh giá cao và có một chỗ đứng xứng tầm. Giải thưởng này không chỉ ghi nhận sự nỗ lực của Ogilvy & Mather Việt Nam, AIPF mà còn của các cá nhân, tổ chức đã nỗ lực nhằm cải thiện nhận thức và nâng cao ý thức của người dân Việt Nam đối với việc giảm thiểu thương vong do tai nạn giao thông tại Việt Nam”
Chiến dịch đội mũ bảo hiểm được thực hiện cho Quỹ phòng chống thương vong Châu Á (AIPF) với mục đích khuyến khích người dân đội mũ bảo hiểm nhằm cổ động an toàn giao thông khi mà trước đây chỉ có 3 % trong số 21 triệu người đi xe máy đội mũ bảo hiểm khi tham gia lưu thông. Chiến lược sáng tạo của công ty Ogilvy & Mather Việt Nam được chuyển thành một chiến dịch sử dụng các kênh quảng cáo trên xe buýt công cộng, quảng cáo ngoài trời, quảng cáo truyền hình, báo chí và online đã tạo nên một chiến dịch đưa ra những lời biện hộ thường gặp cho việc không đội mũ bảo hiểm và hình tượng hóa các hậu quả có thể xảy đến sau đó. Chiến dịch đã nhân ba số người đội mũ bảo hiểm và đã làm giảm thiểu đáng kể các vụ tử vong do tai nạn giao thông và đảm bảo 99% tỉ lệ người dân tuân thủ quy định đội mũ bảo hiểm tại Việt Nam.
IPA Effectiveness Awards là giải thưởng được mở rộng cho các đối tượng là các công ty quảng cáo, đơn vị sở hữu truyền thông và các khách hàng trên toàn thế giới. Các ứng viên sau khi nộp tài liệu tham gia cuộc thi sẽ được một đội ngũ các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong ngành truyền thông tham gia đánh giá và lựa chọn dựa trên hiệu quả thực tế mà nó mang lại.
Theo VnMedia
13/9/08
Khủng hoảng truyền thông
Nguồn tin: Marketing Vietnam
Bạn sẽ làm gì khi điều tồi tệ nhất xảy đến hoặc một tai nạn, một khủng hoảng xảy ra ở một trong những khu vực của bạn? Nếu không giải quyết được một cách hợp lý, danh tiếng của công ty bạn có thể thực sự bị đe doạ. Tuy nhiên, với một kế hoạch hợp lý và một cách chống đỡ phù hợp, một khủng hoảng không nhất thiết còn là một thảm hoạ trong việc bảo toàn chỗ đứng của công ty bạn trong cộng đồng và trong mắt khách hàng.
Điểm then chốt để giải quyết vấn đề này là phát triển một kế hoạch để đối mặt với khủng hoảng trước khi khủng hoảng xảy ra. Trong quá trình phát triển kế hoạch của bạn, hãy cố gắng suy xét đến nhiều cảnh huống mà khủng hoảng có thể xảy ra và đặt ra các kế hoạch để đối đầu với từng khủng hoảng một. Hãy xác định ai sẽ là người phát ngôn của bạn, công ty bạn sẽ nói gì và sẽ làm gì. Điều này sẽ cho phép bạn đáp ứng một cách nhanh chóng và phù hợp khi phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng.
Hãy nhận thấy rằng trong quá trình khủng hoảng, giới truyền thông có thể vừa là bạn vừa là thù, điều này phần lớn phụ thuộc vào việc bạn phản ứng lại và xử lý khủng hoảng như thế nào. Hãy cố gắng xây dựng quan hệ với các nhà báo địa phương để họ biết bạn và công ty bạn một thời gian dài trước khi khủng hoảng có thể xảy ra. Bằng cách này, khi những điều không mong đợi xảy ra, các mối quan hệ cũng đã được thiết lập. Họ sẽ biết công ty bạn và những gì bạn làm và các bài báo của họ cũng sẽ phản ánh những gì họ đã biết.
Nếu khủng hoảng xảy ra:
• Chỉ định một cá nhân làm phát ngôn viên. Có một người phát ngôn sẽ tránh được những mâu thuẫn giữa các thông điệp trong quá trình trao đổi với giới truyền thông và tránh được sự nhầm lẫn trong việc xác định ai là người được phép phát ngôn thông tin nào.
• Trung thực và thẳng thắn với những gì bạn nói. Sẽ tốt hơn nếu bạn nhận ra rằng bạn đã phạm một sai lầm và bạn đang cố gắng để giải quyết nó hơn là cố gắng lấp liếm nó. Nếu bạn không chắc chắn về một điều gì đó hoặc không tìm được câu trả lời thì cũng hãy nói rằng bạn không biết.
• Không được nói “Miễn bình luận.” Điều này sẽ làm cho bạn có vẻ lẩn tránh và phòng thủ và sẽ làm dấy lên sự phản đối trong giới báo chí. Nếu bạn không thể bình luận về một vấn đề nào đó, bạn hãy giải thích tại sao bạn không thể.
• Hãy chắc chắn là tất cả những người cần phải liên lạc luôn luôn có thể liên lạc được qua điện thoại di động và hãy chỉ cho các phóng viên cách tiếp cận với người phát ngôn của bạn sau vài giờ xảy ra khủng hoảng.
Tư vấn truyền thông
Đàm thoại là gốc rễ của truyền thông bằng lời nói. Mục đích của mọi loại hình truyền thông là nhằm khắc ghi vào tâm trí tôi những gì có trong tâm trí bạn. Và cách tốt nhất để thực hiện điều này là khi bạn nói cho tôi nghe. Gánh nặng của việc này nằm trên vai các nhà truyền thông. Đừng bao giờ quên điều đó. Mấp máy miệng và nói ra vài lời bằng một thứ ngôn ngữ chung chưa đủ. Người xuất hiện trước công chúng trong phải hợp lý, có óc xét đoán, có gắng làm yên lòng công chúng luôn là người đạt được hiệu quả. Bạn hãy ở vào chính địa vị của người này.
Hãy nhớ rằng mục tiêu của bạn là để được công chúng yêu thích. Bạn muốn hướng tới cả những đối tượng khác trong công chúng của bạn. Hãy nhớ tới Mike Wallace trong chương trình “60 Phút."
Khi người phỏng vấn của ông ta trông có vẻ u ám, thoái thác, chẳng có gì dễ mến, bạn hãy nghĩ tới Wallace. Bạn muốn anh ta phải nổ tung như một quả bóng bay. Còn khi người phỏng vấn của ông ta trông lịch thiệp, dễ mến và có vẻ điều khiển được, bạn lại có vẻ nghi ngờ không hiểu ông ta kiếm được cái vẻ quá mức dễ chịu ấy từ đâu.
Hãy dùng những kỹ thuật của tôi để làm cho bản thân bạn trở nên dễ mến, trở thành người mà mọi người cổ vũ. Và, nhớ là, thực hành trước bao giờ cũng làm cho nó hoàn hảo hơn.
Hãy tập trước với đồng nghiệp, với gia đình, với hàng xóm và với người cũng làm với bạn. Quan sát xem mọi người phản ứng thân thiện như thế nào đối với nụ cười, khuôn mặt cởi mở, cử chỉ và ánh mắt của bạn. Dùng những kỹ năng này để áp dụng trong lần gặp mặt tới với một người lạ. Gương mặt cởi mở, nụ cười và nói (không phải la lớn) “Chào các bạn!” ("Good morning!") Bạn có thể bắt đầu một ngày của một người lạ như thế. Bạn sẽ có thể cũng đón nhận sự chào đón một cách dễ chịu như vậy, và bạn cũng sẽ bắt đầu một ngày của chính bạn.
Khi bạn được mời đến để nói chuyện với báo chí hoặc trước công chúng, bạn hãy thể hiện những gì như bạn đã làm với hàng xóm và bạn bè của bạn. Đừng ngạc nhiên khi bạn được đón nhận cũng với một sự ấm áp và nhiệt tình như thế.
Một số điểm cần nhớ
* Biết trước chính xác những gì bạn có thể và không thể nói về tổ chức mà bạn đại diện.
* Có thái độ tích cực và xây dựng khuôn khổ giới hạn trong đầu bạn. Duy trì điều này cho dù có bất cứ chuyện gì xảy ra.
* Loại trừ những lời đồn tiêu cực.
* Ngừng một lát, không nói cho tới khi suy nghĩ của bạn thực sự hoạt động.
* Duy trì một thái độ xã giao hợp lý với những người bạn đang trao đổi.
* Hãy làm cho những điều bạn nói mang nhiều ý nghĩa.
* Thư giãn. Thở đều.
* Nói ngắn và đơn giản.
Khuôn mặt
* Đừng nhăn trán để trông có vẻ giáo sư. Thay vào đó hãy nở rộng trán để trông bạn có vẻ cở mở.
* Cười bất cứ khi nào có cơ hội phù hợp.
Dáng người
* Đứng thoải mái, nhưng thẳng thớm.
* Nếu bạn ngồi, hãy giữ lưng thẳng và tựa lên đằng trước, không dựa vào lưng ghế.
* Bắt bản thân bạn phải dùng các cử chỉ nhưng chỉ dùng chúng khi bạn có thể làm thật tự nhiên.
Giọng nói
* Phải chắc chắn là giọng nói của bạn ấm áp cùng với nét mặt và cử chỉ cởi mở.
* Sử dụng cao độ và tốc độ của một cuộc đàm thoại.
(Sưu tầm nếu có thông tin về nguồn xin vui lòng liên hệ với marketingvietnam)
Bạn sẽ làm gì khi điều tồi tệ nhất xảy đến hoặc một tai nạn, một khủng hoảng xảy ra ở một trong những khu vực của bạn? Nếu không giải quyết được một cách hợp lý, danh tiếng của công ty bạn có thể thực sự bị đe doạ. Tuy nhiên, với một kế hoạch hợp lý và một cách chống đỡ phù hợp, một khủng hoảng không nhất thiết còn là một thảm hoạ trong việc bảo toàn chỗ đứng của công ty bạn trong cộng đồng và trong mắt khách hàng.
Điểm then chốt để giải quyết vấn đề này là phát triển một kế hoạch để đối mặt với khủng hoảng trước khi khủng hoảng xảy ra. Trong quá trình phát triển kế hoạch của bạn, hãy cố gắng suy xét đến nhiều cảnh huống mà khủng hoảng có thể xảy ra và đặt ra các kế hoạch để đối đầu với từng khủng hoảng một. Hãy xác định ai sẽ là người phát ngôn của bạn, công ty bạn sẽ nói gì và sẽ làm gì. Điều này sẽ cho phép bạn đáp ứng một cách nhanh chóng và phù hợp khi phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng.
Hãy nhận thấy rằng trong quá trình khủng hoảng, giới truyền thông có thể vừa là bạn vừa là thù, điều này phần lớn phụ thuộc vào việc bạn phản ứng lại và xử lý khủng hoảng như thế nào. Hãy cố gắng xây dựng quan hệ với các nhà báo địa phương để họ biết bạn và công ty bạn một thời gian dài trước khi khủng hoảng có thể xảy ra. Bằng cách này, khi những điều không mong đợi xảy ra, các mối quan hệ cũng đã được thiết lập. Họ sẽ biết công ty bạn và những gì bạn làm và các bài báo của họ cũng sẽ phản ánh những gì họ đã biết.
Nếu khủng hoảng xảy ra:
• Chỉ định một cá nhân làm phát ngôn viên. Có một người phát ngôn sẽ tránh được những mâu thuẫn giữa các thông điệp trong quá trình trao đổi với giới truyền thông và tránh được sự nhầm lẫn trong việc xác định ai là người được phép phát ngôn thông tin nào.
• Trung thực và thẳng thắn với những gì bạn nói. Sẽ tốt hơn nếu bạn nhận ra rằng bạn đã phạm một sai lầm và bạn đang cố gắng để giải quyết nó hơn là cố gắng lấp liếm nó. Nếu bạn không chắc chắn về một điều gì đó hoặc không tìm được câu trả lời thì cũng hãy nói rằng bạn không biết.
• Không được nói “Miễn bình luận.” Điều này sẽ làm cho bạn có vẻ lẩn tránh và phòng thủ và sẽ làm dấy lên sự phản đối trong giới báo chí. Nếu bạn không thể bình luận về một vấn đề nào đó, bạn hãy giải thích tại sao bạn không thể.
• Hãy chắc chắn là tất cả những người cần phải liên lạc luôn luôn có thể liên lạc được qua điện thoại di động và hãy chỉ cho các phóng viên cách tiếp cận với người phát ngôn của bạn sau vài giờ xảy ra khủng hoảng.
Tư vấn truyền thông
Đàm thoại là gốc rễ của truyền thông bằng lời nói. Mục đích của mọi loại hình truyền thông là nhằm khắc ghi vào tâm trí tôi những gì có trong tâm trí bạn. Và cách tốt nhất để thực hiện điều này là khi bạn nói cho tôi nghe. Gánh nặng của việc này nằm trên vai các nhà truyền thông. Đừng bao giờ quên điều đó. Mấp máy miệng và nói ra vài lời bằng một thứ ngôn ngữ chung chưa đủ. Người xuất hiện trước công chúng trong phải hợp lý, có óc xét đoán, có gắng làm yên lòng công chúng luôn là người đạt được hiệu quả. Bạn hãy ở vào chính địa vị của người này.
Hãy nhớ rằng mục tiêu của bạn là để được công chúng yêu thích. Bạn muốn hướng tới cả những đối tượng khác trong công chúng của bạn. Hãy nhớ tới Mike Wallace trong chương trình “60 Phút."
Khi người phỏng vấn của ông ta trông có vẻ u ám, thoái thác, chẳng có gì dễ mến, bạn hãy nghĩ tới Wallace. Bạn muốn anh ta phải nổ tung như một quả bóng bay. Còn khi người phỏng vấn của ông ta trông lịch thiệp, dễ mến và có vẻ điều khiển được, bạn lại có vẻ nghi ngờ không hiểu ông ta kiếm được cái vẻ quá mức dễ chịu ấy từ đâu.
Hãy dùng những kỹ thuật của tôi để làm cho bản thân bạn trở nên dễ mến, trở thành người mà mọi người cổ vũ. Và, nhớ là, thực hành trước bao giờ cũng làm cho nó hoàn hảo hơn.
Hãy tập trước với đồng nghiệp, với gia đình, với hàng xóm và với người cũng làm với bạn. Quan sát xem mọi người phản ứng thân thiện như thế nào đối với nụ cười, khuôn mặt cởi mở, cử chỉ và ánh mắt của bạn. Dùng những kỹ năng này để áp dụng trong lần gặp mặt tới với một người lạ. Gương mặt cởi mở, nụ cười và nói (không phải la lớn) “Chào các bạn!” ("Good morning!") Bạn có thể bắt đầu một ngày của một người lạ như thế. Bạn sẽ có thể cũng đón nhận sự chào đón một cách dễ chịu như vậy, và bạn cũng sẽ bắt đầu một ngày của chính bạn.
Khi bạn được mời đến để nói chuyện với báo chí hoặc trước công chúng, bạn hãy thể hiện những gì như bạn đã làm với hàng xóm và bạn bè của bạn. Đừng ngạc nhiên khi bạn được đón nhận cũng với một sự ấm áp và nhiệt tình như thế.
Một số điểm cần nhớ
* Biết trước chính xác những gì bạn có thể và không thể nói về tổ chức mà bạn đại diện.
* Có thái độ tích cực và xây dựng khuôn khổ giới hạn trong đầu bạn. Duy trì điều này cho dù có bất cứ chuyện gì xảy ra.
* Loại trừ những lời đồn tiêu cực.
* Ngừng một lát, không nói cho tới khi suy nghĩ của bạn thực sự hoạt động.
* Duy trì một thái độ xã giao hợp lý với những người bạn đang trao đổi.
* Hãy làm cho những điều bạn nói mang nhiều ý nghĩa.
* Thư giãn. Thở đều.
* Nói ngắn và đơn giản.
Khuôn mặt
* Đừng nhăn trán để trông có vẻ giáo sư. Thay vào đó hãy nở rộng trán để trông bạn có vẻ cở mở.
* Cười bất cứ khi nào có cơ hội phù hợp.
Dáng người
* Đứng thoải mái, nhưng thẳng thớm.
* Nếu bạn ngồi, hãy giữ lưng thẳng và tựa lên đằng trước, không dựa vào lưng ghế.
* Bắt bản thân bạn phải dùng các cử chỉ nhưng chỉ dùng chúng khi bạn có thể làm thật tự nhiên.
Giọng nói
* Phải chắc chắn là giọng nói của bạn ấm áp cùng với nét mặt và cử chỉ cởi mở.
* Sử dụng cao độ và tốc độ của một cuộc đàm thoại.
(Sưu tầm nếu có thông tin về nguồn xin vui lòng liên hệ với marketingvietnam)
Xây Dựng Chiến Lược Truyền Thông Marketing
Đỗ Hoà - www.marketingchienluoc.com
Chiến lược truyền thông là một phần của chiến lược thị trường. Một chiến lược truyền thông cụ thể tạo ra một định hướng cần thiết cho mọi hoạt động truyền thông, nó giúp doanh nghiệp chuyển thông điệp của mình đến khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả, qua đó tạo ra một vị trí vững chắc trong suy nghĩ, nhận thức của khách hàng.
Chiến lược truyền thông bao gồm các yếu tố sau đây:
1. Đối tượng mục tiêu.
Rõ ràng là bạn phải xác định rõ đối tượng khách hàng sẽ nhận các thông điệp truyền thông của bạn là ai. Bạn cũng cần phân định rõ ràng giữa khách hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng, bởi vì giữa hai đối tượng nầy bạn sẽ có thể gởi đi những thông điệp khác nhau, sử dụng phương tiện truyền thông khác nhau.
Ngoài ra, bạn cần xem xét yếu tố tạo nên sự khác nhau giữa một nhóm khách hàng nầy với nhóm khác. Sự khác nhau có thể được phân định bởi nhu cầu, tuổi tác, địa lý, thu nhập, tâm lý hoặc lối sống.
Cần lưu ý là số lượng người mà bạn cố truyền thông đến càng lớn thì thông điệp của bạn càng thiếu cụ thể, thiếu thuyết phục.
2. Thông điệp định vị.
Bằng cách định vị, bạn chọn cho mình một vị trí trong trí óc của khách hàng. Hiện nay, khách hàng dường như bị quá tải do họ là đích nhắm của quá nhiều thông điệp truyền thông, hầu như mọi lúc mọi nơi. Giữa một rừng thông điệp truyền thông như vậy, một định vị tốt giúp bạn có cơ hội tìm được con đường đi vào trong nhận thức, suy nghĩ của khách hàng và lưu lại đó lâu dài.
3. Mục tiêu truyền thông.
Mục tiêu truyền thông là điều bạn muốn đạt được qua một chương trình truyền thông. Mục tiêu truyền thông có thể là xây dựng một hình ảnh, giá trị cho một thương hiệu; gia tăng sự nhận biết của khách hàng về một sản phẩm, một dịch vụ; thông báo về một chương trình khuyến mại; giới thiệu một sản phẩm mới cùng những lợi ích mà nó mang lại cho khách hàng; uốn nắng những nhận thức lệch lạc về một thương hiệu, một công ty .v.v.. Xác định mục tiêu truyền thông cụ thể, giúp bạn có cơ sở để đo lường hiệu quả của một chương trình truyền thông
4. Chiến lược tiếp cận và thông điệp cần truyền đi.
Chỉ bằng sự hiểu biết của mình về khách hàng và thị trường, bạn mới có thể xây dựng cho mình một chiến lược tiếp cận khách hàng hiệu quả. Bạn cũng cần xác định thông điệp mình muốn truyền đến khách hàng là gì, thông điệp đó phản ánh nỗ lực của bạn trong việc chiếm lấy một vị trí trong tâm trí khách hàng mà bạn đã định vị. Thông điệp đó có thể được truyền đến khách hàng bằng một phương tiện truyền thông đơn lẻ hoặc một tập hợp của nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, tuỳ vào đặc điểm khách hàng và thị trường, tuỳ vào khả năng của bạn.
5. Truyền thông và hiệu quả kinh doanh.
Muốn hay không, truyền thông phải mang lại hiệu quả trong kinh doanh, và do vậy cần phải được đo lường. Người ta đo lường hiệu quả truyền thông bằng cách so sánh hiệu quả đạt được với mục tiêu truyền thông đề ra ngay từ đầu. Ngoài ra người ta còn so sánh chi phí phải bỏ ra giữa những phương tiện truyền thông khác nhau để đạt được một đơn vị đo lường cụ thể. Một ví dụ về mục tiêu và đo lường hiệu qủa truyền thông: Bạn đặt ra mục tiêu ít nhất 80% khách hàng mục tiêu có thể nhận biết một sản phẩm mới của bạn trong vòng 3 tháng, và sau 3 tháng kể từ khi thực hiện chương trình truyền thông, bạn thực hiện một cuộc thăm dò khách hàng để kiểm tra xem bao nhiêu phần trăm khách hàng nhận biết sàn phẩm mới của bạn.
6. Theo đuổi.
Một sản phẩm hoàn toàn mới, đáp ứng một nhu cầu bức thiết của khách hàng thường dễ đi vào lòng người hơn là một sản phẩm không có gì khác biệt so với những sản phẩm cùng loại khác, và cùng tham gia trên một thị trường. Xây dựng một thương hiệu đòi hỏi sự kiên trì và một chiến lược truyền thông lâu dài.
Chiến lược truyền thông là một phần của chiến lược thị trường. Một chiến lược truyền thông cụ thể tạo ra một định hướng cần thiết cho mọi hoạt động truyền thông, nó giúp doanh nghiệp chuyển thông điệp của mình đến khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả, qua đó tạo ra một vị trí vững chắc trong suy nghĩ, nhận thức của khách hàng.
Chiến lược truyền thông bao gồm các yếu tố sau đây:
1. Đối tượng mục tiêu.
Rõ ràng là bạn phải xác định rõ đối tượng khách hàng sẽ nhận các thông điệp truyền thông của bạn là ai. Bạn cũng cần phân định rõ ràng giữa khách hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng, bởi vì giữa hai đối tượng nầy bạn sẽ có thể gởi đi những thông điệp khác nhau, sử dụng phương tiện truyền thông khác nhau.
Ngoài ra, bạn cần xem xét yếu tố tạo nên sự khác nhau giữa một nhóm khách hàng nầy với nhóm khác. Sự khác nhau có thể được phân định bởi nhu cầu, tuổi tác, địa lý, thu nhập, tâm lý hoặc lối sống.
Cần lưu ý là số lượng người mà bạn cố truyền thông đến càng lớn thì thông điệp của bạn càng thiếu cụ thể, thiếu thuyết phục.
2. Thông điệp định vị.
Bằng cách định vị, bạn chọn cho mình một vị trí trong trí óc của khách hàng. Hiện nay, khách hàng dường như bị quá tải do họ là đích nhắm của quá nhiều thông điệp truyền thông, hầu như mọi lúc mọi nơi. Giữa một rừng thông điệp truyền thông như vậy, một định vị tốt giúp bạn có cơ hội tìm được con đường đi vào trong nhận thức, suy nghĩ của khách hàng và lưu lại đó lâu dài.
3. Mục tiêu truyền thông.
Mục tiêu truyền thông là điều bạn muốn đạt được qua một chương trình truyền thông. Mục tiêu truyền thông có thể là xây dựng một hình ảnh, giá trị cho một thương hiệu; gia tăng sự nhận biết của khách hàng về một sản phẩm, một dịch vụ; thông báo về một chương trình khuyến mại; giới thiệu một sản phẩm mới cùng những lợi ích mà nó mang lại cho khách hàng; uốn nắng những nhận thức lệch lạc về một thương hiệu, một công ty .v.v.. Xác định mục tiêu truyền thông cụ thể, giúp bạn có cơ sở để đo lường hiệu quả của một chương trình truyền thông
4. Chiến lược tiếp cận và thông điệp cần truyền đi.
Chỉ bằng sự hiểu biết của mình về khách hàng và thị trường, bạn mới có thể xây dựng cho mình một chiến lược tiếp cận khách hàng hiệu quả. Bạn cũng cần xác định thông điệp mình muốn truyền đến khách hàng là gì, thông điệp đó phản ánh nỗ lực của bạn trong việc chiếm lấy một vị trí trong tâm trí khách hàng mà bạn đã định vị. Thông điệp đó có thể được truyền đến khách hàng bằng một phương tiện truyền thông đơn lẻ hoặc một tập hợp của nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, tuỳ vào đặc điểm khách hàng và thị trường, tuỳ vào khả năng của bạn.
5. Truyền thông và hiệu quả kinh doanh.
Muốn hay không, truyền thông phải mang lại hiệu quả trong kinh doanh, và do vậy cần phải được đo lường. Người ta đo lường hiệu quả truyền thông bằng cách so sánh hiệu quả đạt được với mục tiêu truyền thông đề ra ngay từ đầu. Ngoài ra người ta còn so sánh chi phí phải bỏ ra giữa những phương tiện truyền thông khác nhau để đạt được một đơn vị đo lường cụ thể. Một ví dụ về mục tiêu và đo lường hiệu qủa truyền thông: Bạn đặt ra mục tiêu ít nhất 80% khách hàng mục tiêu có thể nhận biết một sản phẩm mới của bạn trong vòng 3 tháng, và sau 3 tháng kể từ khi thực hiện chương trình truyền thông, bạn thực hiện một cuộc thăm dò khách hàng để kiểm tra xem bao nhiêu phần trăm khách hàng nhận biết sàn phẩm mới của bạn.
6. Theo đuổi.
Một sản phẩm hoàn toàn mới, đáp ứng một nhu cầu bức thiết của khách hàng thường dễ đi vào lòng người hơn là một sản phẩm không có gì khác biệt so với những sản phẩm cùng loại khác, và cùng tham gia trên một thị trường. Xây dựng một thương hiệu đòi hỏi sự kiên trì và một chiến lược truyền thông lâu dài.
Truyền Thông Marketing
Đỗ Hoà - www.marketingchienluoc.com
Nhằm có thể đạt được mục tiêu kinh doanh trên thị trường, có một sản phẩm tốt không thôi chưa đủ, doanh nghiệp cần phải xây dựng thương hiệu của minh thành một thương hiệu được khách hàng ưa chuộng. Để đạt được điều nầy, doanh nghiệp cần phải truyền thông với thị trường để khách hàng biết những tính năng ứng dụng, tính ưu việt và lợi ích của sản phẩm mình. Ngoài ra, doanh nghiệp còn cần phải xây dựng mối quan hệ với khách hàng và duy trì cũng cố mối quan hệ nầy. Vì những yêu cầu trên, doanh nghiệp cần có một chiến lược truyền thông marketing.
Có nhiều hình thức truyền thông marketing khác nhau. Doanh nghiệp có thể truyền thông một cách trực tiếp, mặt đối mặt, sử dụng đội ngũ bán hàng, hoặc thông qua trung tâm dịch vụ điện thoại, hoặc một cách gián tiếp, sử dụng quảng cáo, hoạt động thúc đẩy thương mại, truyền thông điện tử, hoặc là các vật dụng trưng bày tại điểm bán hàng.
Yếu tố chọn công cụ truyền thông marketing nên dựa trên nguyên tắc phương tiện nào giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả kinh tế nhất, cụ thể là phương tiện nào mang lại hiệu quả cao nhất trên cùng một khoảng chi phí bỏ ra.
Các hình thức truyền thông khác nhau.
Trên thực tế doanh nghiệp có nhiều phương thức đa dạng trong việc truyền thông với khách hàng, nhưng vẫn có thể phân biệt được thành hai loại chính:
1. Truyền thông phi cá thể, chẳng hạn quảng cáo, vật dụng trưng bày tại điểm bán hàng, thúc đẩy bán hàng, truyền thông điện tử và quan hệ công đồng.
2. Truyền thông cá thể (trực tiếp đối mặt), cụ thể là gặp mặt trực tiếp giữa nhân viên bán hàng và khách hàng, chẳng hạn như bán trực tiếp hoặc trung tâm dịch vụ điện thoại.
Cho nên có thể nói có khá nhiều hình thức truyền thông để doanh nghiệp lựa chọn, họ có thể sử dụng đơn độc một loại, hoặc sử dụng một tập hợp nhiều kỹ thuật cùng một lúc, nếu cần thiết, để đạt được hiệu quả tối đa trong khả năng ngân sách hạn hẹp.
Quảng cáo là một phương thức phổ biến về truyền thông phi cá thể, sử dụng những phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, truyền thanh, bảng quảng cáo, tờ poster v.v. Tuy nhiên vẫn có nhiều vấn đề cần phải xem xét cẩn thận trước khi đưa ra quyết định chi tiêu cho việc quảng cáo. Chẳng hạn như có nhiều người cho rằng quảng cáo là lãng phí, chi phí tiêu dùng vào phương tiện truyền thông có thể mang lại hiệu quả hơn nếu dùng vào việc bán hàng thông qua tiếp xúc cá nhân.
Do vậy vấn đề là làm thế nào để xác định chiến lược truyền thông hỗn hợp thích hợp.
Nhằm có thể đạt được mục tiêu kinh doanh trên thị trường, có một sản phẩm tốt không thôi chưa đủ, doanh nghiệp cần phải xây dựng thương hiệu của minh thành một thương hiệu được khách hàng ưa chuộng. Để đạt được điều nầy, doanh nghiệp cần phải truyền thông với thị trường để khách hàng biết những tính năng ứng dụng, tính ưu việt và lợi ích của sản phẩm mình. Ngoài ra, doanh nghiệp còn cần phải xây dựng mối quan hệ với khách hàng và duy trì cũng cố mối quan hệ nầy. Vì những yêu cầu trên, doanh nghiệp cần có một chiến lược truyền thông marketing.
Có nhiều hình thức truyền thông marketing khác nhau. Doanh nghiệp có thể truyền thông một cách trực tiếp, mặt đối mặt, sử dụng đội ngũ bán hàng, hoặc thông qua trung tâm dịch vụ điện thoại, hoặc một cách gián tiếp, sử dụng quảng cáo, hoạt động thúc đẩy thương mại, truyền thông điện tử, hoặc là các vật dụng trưng bày tại điểm bán hàng.
Yếu tố chọn công cụ truyền thông marketing nên dựa trên nguyên tắc phương tiện nào giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả kinh tế nhất, cụ thể là phương tiện nào mang lại hiệu quả cao nhất trên cùng một khoảng chi phí bỏ ra.
Các hình thức truyền thông khác nhau.
Trên thực tế doanh nghiệp có nhiều phương thức đa dạng trong việc truyền thông với khách hàng, nhưng vẫn có thể phân biệt được thành hai loại chính:
1. Truyền thông phi cá thể, chẳng hạn quảng cáo, vật dụng trưng bày tại điểm bán hàng, thúc đẩy bán hàng, truyền thông điện tử và quan hệ công đồng.
2. Truyền thông cá thể (trực tiếp đối mặt), cụ thể là gặp mặt trực tiếp giữa nhân viên bán hàng và khách hàng, chẳng hạn như bán trực tiếp hoặc trung tâm dịch vụ điện thoại.
Cho nên có thể nói có khá nhiều hình thức truyền thông để doanh nghiệp lựa chọn, họ có thể sử dụng đơn độc một loại, hoặc sử dụng một tập hợp nhiều kỹ thuật cùng một lúc, nếu cần thiết, để đạt được hiệu quả tối đa trong khả năng ngân sách hạn hẹp.
Quảng cáo là một phương thức phổ biến về truyền thông phi cá thể, sử dụng những phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, truyền thanh, bảng quảng cáo, tờ poster v.v. Tuy nhiên vẫn có nhiều vấn đề cần phải xem xét cẩn thận trước khi đưa ra quyết định chi tiêu cho việc quảng cáo. Chẳng hạn như có nhiều người cho rằng quảng cáo là lãng phí, chi phí tiêu dùng vào phương tiện truyền thông có thể mang lại hiệu quả hơn nếu dùng vào việc bán hàng thông qua tiếp xúc cá nhân.
Do vậy vấn đề là làm thế nào để xác định chiến lược truyền thông hỗn hợp thích hợp.
Truyền thông là gì?
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những từ người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ.
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin.
Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng. Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng. 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được. Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác. Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia.
Hội thoại giữa các cá nhân thường xuất hiện theo cặp hoặc từng nhóm với qui mô khác nhau. Qui mô của nhóm tham gia thường tác động tới bản chất của cuộc hội thoại. Truyên thông trong nhóm nhỏ thường diễn ra giữa ba đến mười hai cá nhân và khác biệt với trao đổi qua lại giữa các nhóm lớn hơn như công ty hay cộng đồng. Hình thức truyền thông này được hình thành từ một cặp hay nhiều hơn, thông thường được đề cập tới như một mô hình tâm lý học trong đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận qua một kênh thông tin. Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyển các thông điệp tới một lượng rất lớn các cá nhân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Quá trình truyền thông diễn ra liên tục. Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi người xung quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những tín hiệu truyền thông không bằng lời cho những người xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý).
Bởi truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin, các mốc phát triển truyền thông thường gắn liền với tiến bộ công nghệ. Tóm lược bài viết “Truyền thông các nhân tiếp bước truyền thông đại chúng” trên Vnexpress.net dưới đây đóng góp một số thông tin thú vị về bước tiến của truyền thông với công nghệ mới.
Năm 1448, thợ kim hoàn Gutenberg sống tại Mainz (Đức) đã phát minh ra hệ thống “movable type” (tôi tạm dịch: hệ thống sắp chữ động?) (dù người Trung Quốc tuyên bố họ mới là người đầu tiên nghĩ ra công nghệ này). Người ta nhập (type) các chữ cái vào thiết bị và sau đó in các trang văn bản ra giấy (move). Phương pháp này phá vỡ kiểu phân phối thông tin chủ đạo thời đó: các nhà truyền giáo chép tay các thông tin hoặc khắc lên gỗ rồi in ra giấy. Năm 1455, Gutenberg kinh doanh công nghệ cùng người đồng hương giàu có Johannes Fust. Tuy nhiên, chi phí duy trì đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát và Gutenberg sớm bị vỡ nợ.
Dù vậy, chỉ sau vài thập kỷ, “movable type” đã lan khắp châu Âu, góp phần không nhỏ vào cuộc cách mạng thông tin, còn gọi là thời kỳ Phục Hưng và trong những thế kỷ tiếp theo, sách, báo, tạp chí… bắt đầu được phát hành rộng rãi.
Năm 2001, tức 5,5 thế kỷ sau, "movable type" lại hồi sinh. Ông bà Ben và Mena Trott (sống tại San Francisco, Mỹ) chịu cảnh thất nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng dotcom. Mena bắt đầu lập web cá nhân (blog) Dollarshort để "kể về những chuyệt vặt vãnh thời thơ ấu". Trang Dollarshort dần trở nên nổi tiếng và vợ chồng Trotts quyết định xây dựng một công cụ hỗ trợ đăng blog hiệu quả hơn. Phần mềm mang tên Movable Type này hiện là sự lựa chọn số một của nhiều blogger danh tiếng và nằm trong 10 công cụ tạo web cá nhân hàng đầu do tạp chí Forbes bình chọn.
“Movable type” đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của khái niệm truyền thông đại chúng, còn Movable Type lần hai lại báo hiệu giai đoạn "truyền thông cá nhân" . Hiện tượng văn hóa mới mẻ này đặc biệt phổ biến trong giới trẻ, nhất là ở những nước phát triển.
Tổng hợp
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin.
Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng. Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng. 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được. Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác. Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia.
Hội thoại giữa các cá nhân thường xuất hiện theo cặp hoặc từng nhóm với qui mô khác nhau. Qui mô của nhóm tham gia thường tác động tới bản chất của cuộc hội thoại. Truyên thông trong nhóm nhỏ thường diễn ra giữa ba đến mười hai cá nhân và khác biệt với trao đổi qua lại giữa các nhóm lớn hơn như công ty hay cộng đồng. Hình thức truyền thông này được hình thành từ một cặp hay nhiều hơn, thông thường được đề cập tới như một mô hình tâm lý học trong đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận qua một kênh thông tin. Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyển các thông điệp tới một lượng rất lớn các cá nhân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Quá trình truyền thông diễn ra liên tục. Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi người xung quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những tín hiệu truyền thông không bằng lời cho những người xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý).
Bởi truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin, các mốc phát triển truyền thông thường gắn liền với tiến bộ công nghệ. Tóm lược bài viết “Truyền thông các nhân tiếp bước truyền thông đại chúng” trên Vnexpress.net dưới đây đóng góp một số thông tin thú vị về bước tiến của truyền thông với công nghệ mới.
Năm 1448, thợ kim hoàn Gutenberg sống tại Mainz (Đức) đã phát minh ra hệ thống “movable type” (tôi tạm dịch: hệ thống sắp chữ động?) (dù người Trung Quốc tuyên bố họ mới là người đầu tiên nghĩ ra công nghệ này). Người ta nhập (type) các chữ cái vào thiết bị và sau đó in các trang văn bản ra giấy (move). Phương pháp này phá vỡ kiểu phân phối thông tin chủ đạo thời đó: các nhà truyền giáo chép tay các thông tin hoặc khắc lên gỗ rồi in ra giấy. Năm 1455, Gutenberg kinh doanh công nghệ cùng người đồng hương giàu có Johannes Fust. Tuy nhiên, chi phí duy trì đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát và Gutenberg sớm bị vỡ nợ.
Dù vậy, chỉ sau vài thập kỷ, “movable type” đã lan khắp châu Âu, góp phần không nhỏ vào cuộc cách mạng thông tin, còn gọi là thời kỳ Phục Hưng và trong những thế kỷ tiếp theo, sách, báo, tạp chí… bắt đầu được phát hành rộng rãi.
Năm 2001, tức 5,5 thế kỷ sau, "movable type" lại hồi sinh. Ông bà Ben và Mena Trott (sống tại San Francisco, Mỹ) chịu cảnh thất nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng dotcom. Mena bắt đầu lập web cá nhân (blog) Dollarshort để "kể về những chuyệt vặt vãnh thời thơ ấu". Trang Dollarshort dần trở nên nổi tiếng và vợ chồng Trotts quyết định xây dựng một công cụ hỗ trợ đăng blog hiệu quả hơn. Phần mềm mang tên Movable Type này hiện là sự lựa chọn số một của nhiều blogger danh tiếng và nằm trong 10 công cụ tạo web cá nhân hàng đầu do tạp chí Forbes bình chọn.
“Movable type” đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của khái niệm truyền thông đại chúng, còn Movable Type lần hai lại báo hiệu giai đoạn "truyền thông cá nhân" . Hiện tượng văn hóa mới mẻ này đặc biệt phổ biến trong giới trẻ, nhất là ở những nước phát triển.
Tổng hợp
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)