16/1/10

HỒI ÂM KHI THÁNG TÁM

Hai hôm trước, khi ngồi ở bên rìa trái đất, vào giờ trời đổ mưa B nhìn thấy một chiếc tổ chim đang trôi dưới dòng Nhiêu Lộc. Tự dưng B nhớ lời sư ông "Nếu ai đó còn cảm thấy mình mang quá nhiều tuyệt vọng, cứ nhảy xuống dòng kênh rồi leo lên là thấy đời còn nhiều tốt đẹp..."
Cúc rộ một màu thu khác

Cách đây 6 năm, khi B chuẩn bị làm luận văn TS, họ bảo phải đóng rất nhiều khoản phí, tính ra, để đủ chỗ ấy thì B phải để dành những 10 tháng lương. Cũng về qua con kênh này, khi lòng còn phân vân vô kể thì B thấy lao xao bên bờ kênh một nhóm người đang cố kéo 1 người đang lóp ngóp dưới dòng kênh đen kia. Thì ra anh chàng sau khi giật chiếc bóp của người đi đường, bị rượt đuổi ra tới con kênh, bí đường nhảy ùm xuống. Chà, phải gội rửa cho chuyện này miệt mài đây.

Hoa bạch dương ở BL

Sang thu rồi, lẽ ra B sẽ đi một chuyến về BL trước khi trở lại trường nhưng B ốm liệt giường đã hơn 2 tuần rồi. Vậy là ước muốn đạp xe qua con dốc đầy sương có lẽ không thực hiện được. Chiếc xe đạp lại hỏng, đành nhìn lại một năm trôi qua trong nhịp trôi lặng lẽ của chiếc tổ đang giữa dòng nước kia mà không phải là những vòng xe dạo quanh hồ như ước muốn. Không biết, sang tháng 10 BL có dầy đặc mây mù?

... và thuần khiết vô cùng

Một năm trôi qua với những buổi tiệc tùng náo nhiệt và vẻ điệu đàng của Yan. Có lẽ chúng ta đã khá hạnh phúc với một năm sắp hết.
Cái này viết cho L, chuẩn bị một năm mới sắp bắt đầu khi thu vừa sang. Sự khởi đầu mát mẻ và vàng nắng, chuẩn bị một mùa đông lạnh lẽo mà đầy niềm bi cảm. Như kiểu kì bí và lạnh lẽo của tình yêu, bao la và cô độc như rừng núi!

CUỐI TUẦN

Từ Frankfurt sẽ không ai kịp chạy về với buổi sáng thứ 7 của B. Một buổi sáng tinh khôi lạ thường, mặc dù căn phòng ấy tối qua vừa có một bữa tiệc tệ hại mà B với áo quần nhếch nhác vừa từ công trường về, trông thật nhàu giữa đám khách xinh đẹp, thơm tho. Thật vậy, giá mà ai đó về kịp với quãng đường xa ngút ngàn như thế và nói với B rằng họ cần có nhau, trong một sáng thứ 7 ngào ngạt hương thế này. Một buổi sáng không có khái niệm mặt trời mọc ở đằng Đông mà chỉ là trái đất đang quay, B đang nghĩ về họ, họ đang nghĩ về ai đó, ai đó đang cần nhau... đến khi mặt trời tắt nắng, căn phòng lại trở về cái trù tịch thường ngày.

... Và B đạp xe xuôi ngược hai bờ sông. Mùa thu càng chết dần đi, mùa thu càng đẹp lạ thuờng. Lòng sông rạo rực thành tiếng, nghe hẳn là rõ, nhưng không trong hơn lúc ban ngày.
B đạp xe giữa hai triền núi, giữa hai nửa của bóng tối. Thành phố không lớn, nhưng bóng đêm ở quận ngọai thành vẫn êm hẳn, lặng như mảnh tình găm vào lòng, nằm yên ở đây, nhưng càng đi xa càng thấy sâu thẳm.
B đi lên đồi, bốn phía là rừng, một nửa những cây thông đại ngàn xanh trăm năm, chen lẫn là sắc đỏ, vàng của mùa thu. Rừng dầy quá, không thể thấy đỉnh núi nào. B nằm trên một khúc cây, thấy thật nhẹ nhõm, như vừa thóat khỏi một điều gì khủng khiếp lắm...
Sự thực, B chỉ rời khỏi một đám đông trong căn nhà dưới thung lũng. Ấy là tháng tám, B lên đồi nghe một bài hát về tháng sáu. Một bài hát mới về tình yêu. Hình như tình yêu của những năm tuổi đầu ba, nghe rất yên tĩnh và phẳng lặng.
Giữa những cuộc vui mùa thu, B không rõ, có cái gì đấy bên trong cứ đang cạn dần. Có cái gì đấy từng lớn lên qua bao năm tháng, giờ cứ gãy, chết từng chút một. Phải chăng đang sống trong một thành phố đẹp quá, nên có đôi chút ngơ ngác.
MIKIWA

THE WAY THAT I AM

Lỗi tại Dehang khiến trái tim của thiếu nữ trẻ đập loạn nhịp. Những bến tàu, những ngôi nhà ven sông và những chiếc cối xay gió xoay tít ven đại lộ là hình ảnh không thể phai trong em.
Chúng ta, độc giả bình thường không thể nào hiểu nổi cái nguy hiểm của một nhịp loạn. Vì điều đó chỉ xảy ra trong tik tak. Và em sẽ mang theo về ngôi nhà có anh, những bữa điểm tâm sáng rất vội và đạp xe hơn 5 cây số để đến văn phòng ở Dehang. Những bài học triết lý ở đó mang màu đỏ của quả cà chua nhưng đôi khi lại thắm sắc ruột dưa hấu. Nên đôi khi em bồi hồi nhận ra sự rối loạn ở đây thuộc về mùa thu se lạnh, khi xe chúng ta bị pan trên lối vào rừng một ngày cuối tuần. Để rồi em nghe trái tim mình vỡ vụn khi cánh tay của anh bị bó bột, không thể gối những giấc mơ em hàng đêm.
Trong lúc vội vã vượt sông bao quanh Dehang, em gặp lại một người quen cũ giữa lưng chừng trời, khi chúng em kể cho nhau nghe về anh, Dehang phía dưới nhạt dần như những sợi gió. Cho đến khi chúng em hẹn nhau bên hiên phố Alex, anh ta trở nên trầm tư, uống nhiều rượu vang đỏ và ít nói hơn. Thời gian có phải dạy cho chúng ta chỉ nên mở miệng khi cần thiết. Thời gian cũng khiến cho mắt anh ta bớt lấp lánh. Ảo tưởng vẫn luôn là thứ không tốt. Và vì thế, ước muốn được nghe những câu chuyện về anh, về Dehang không thể thành hiện thực. Nỗi hối tiếc này hiện diện suốt trong tháng ngày xa anh, xa Dehang yêu dấu, xa cái ban công mà em từng lén anh trèo ra đó để hút thuốc trong tiết đông lạnh lùng của Dehang. Cái ban công nhỏ chật hẹp nhìn thẳng xuống bến thuyền làm em nhớ Phà Mỹ thuận. Kỳ lạ thay, ở nơi này em lại nhớ nơi kia, khi trở về nơi từng gây nỗi nhớ em lại nhớ về nơi này. Mười hai giờ đêm ở Sài Gòn, đi ra ngõ vẫn có thể mua được thuốc lá, bia và vài lời châm chọc của bà chủ quán. Nhưng Dehang thì lặng thầm một niềm bi cảm khôn nguôi. Đêm qua, chúng em ra đi với một chút ký ức nhỏ nhoi như vậy, nhưng cứ luôn muốn hâm nóng nó liên tục.
P/s: Trong lúc đuổi theo những con gió đùa nghịch lăn tăn quanh nhà hát thành phố, chúng em có cùng ăn với nhau em tuýp kem Roda mất hết 2 đô.

JOE BÉ BỎNG

Bé Joe rất được cưng chiều vì thế nên Joe luôn cảm thấy cần một ai đó để níu vào mỗi khi rời lớp học ở trường mẫu giáo. Joe có cô bảo mẫu mỗi ngày đưa đón khi cha mẹ đến hội sở làm việc.

Joe thích cô bảo mẫu có cặp vòng tay kỳ lạ mà có lần mẹ Joe bảo đó là biểu tượng của người Deep. Joe không hiểu nhưng nó thật sự hấp dẫn và Jeo cảm thấy có một niềm đam mê kỳ lạ được chạm tay vào. Một lần, trước khi cô bảo mẫu chào từ biệt Joe và cha mẹ ra về, Joe đã òa khóc và bíu chặt cặp vòng tay ấy, khóc nức nỡ. Ham muốn tự nhiên và mãnh liệt của Joe khiến cô ấy – một người trông lạnh lùng – cũng ngại ngùng và động lòng. Cô ấy những tưởng nếu Joe là cô và cô là người ấy, thì chắc gì cô giống như Joe để làm người ấy động lòng. Ngậm ngùi trở về, cô ấy thì thầm với Joe “Cô không làm được như vậy với người ấy vì cô và họ không hợp nhau, Joe ạ”!

BÀI BLUE CHƯA ĐẶT TÊN

Gửi cho em bài Blue ban mai
Chờ nắng xanh lên trong mắt
Những cung đường trong như ngọc
Là ước mơ dành riêng cho em

Những cung đường gió lộng
Sẽ dâng hương khi mình xa vắng
Dù ngày hay đêm còn vài khoảng lặng
Dù mông lung con nắng sang mùa

Bây giờ đã sang Đông chưa?
Sao con đường vẫn đầy hoa sữa…
Sao em vẫn còn quên đóng cửa,
Chờ đợi con nắng nào xưa xa?...

Ở giữa bốn bề bao la
Bài Blue xưa xa rung mình nâu lại
Thèm một sợi rét khâu vào len lụa
Để nghe ấm nồng một khúc ban mai.

P/S: Mặc dù đã cũ, nhưng nhớ quá... thôi kệ!
Thiên Bảo
(2008)

22/5/09

Giá sữa ở Việt Nam đắt nhất thế giới, vì sao?

Giá sữa trong nước đang diễn tiến theo chiều ngược với thị trường thế giới. Các nhà sản xuất và cung ứng không có sự cạnh tranh giảm giá nào, và định giá sữa dựa trên nhận thức của người tiêu dùng

Các bậc phụ huynh phải chấp nhận mua sữa với giá cao, một phần do tin rằng sữa làm con em mình thông thái hơn (?).

Giá bán lẻ sữa ở Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới: giá bán lẻ trung bình là 1,4 USD/lít, trong khi Trung Quốc là 1,1 USD, Ấn Độ: 0,5 USD, các nước Âu - Mỹ từ 0,5-0,9 USD/lít. Hiện giá sữa ở Việt Nam cao gấp đôi Malaysia và gấp 1,5 lần so với Thái Lan. Đó là thông tin từ hội thảo về chất lượng sữa do hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vừa qua. Hội đang đề nghị đưa sản phẩm sữa vào danh mục các mặt hàng được Nhà nước bình ổn giá, kiểm soát giá.

Giá thế giới giảm, giá trong nước tăng

Sự bất hợp lý trong tiêu dùng sữa của thị trường Việt Nam thể hiện ở chỗ người tiêu dùng phải trả số tiền lớn hơn để mua sữa trong khi thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam lại thấp so với thế giới. Theo ông Hồ Tất Thắng, phó chủ tịch hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, từ năm 2007 đến nay, giá sữa ở trong nước liên tục tăng, trong khi thuế và giá sữa thế giới lại giảm. Ghi nhận từ thị trường, vào lúc cao điểm giá sữa nguyên liệu lên đến trên 5.000USD/tấn (từ giữa đến cuối qúi 3.2008), người tiêu dùng đã phải chịu mua sữa giá cao gọi là để chia sẻ khó khăn (về đầu vào) với doanh nghiệp. Khi giá sữa nguyên liệu giảm từ các tháng cuối 2008 đến nay, các nhãn sữa trên thị trường cũng không giảm giá, mà lại tiếp tục tăng! Hiện nay, giá sữa trên thị trường thế giới ở đã giảm hơn 40% so với cao điểm. Một thuận lợi khác cho sữa nhập khẩu, là chính phủ đã giảm thuế từ 30% xuống còn 7%. Nhưng giá bán sữa cứ tăng!

Ngay cả sữa tươi dùng nguyên liệu trong nước, người tiêu dùng cũng gánh chịu giá cao. Như 1 lít sữa tươi 100% nguyên chất (làm từ sữa bò của nông dân), giá bán lẻ của các công ty sữa có thể lên đến 23.400-23.610 đồng, gấp gần 4 lần so với giá mua của nông dân chỉ khoảng 6.500- 7.000 đồng.

Giá một kg sữa đạt chuẩn về hạm lượng đạm, béo, đường và có bổ sung đầy đủ các khoáng chất, vitamin, DHA, Prebiotic… theo tiêu chuẩn của FAO/ WHO không quá 70.000đ. Nếu cộng thêm bao bì khoảng 7.000 - 8.000đ/lon thiếc, các khoản thuế và chi phí khác cho kinh doanh thì bán trên 100.000đ/kg là các công ty đã có lãi.

Theo mức giá trên thị trường hiện nay mà một công ty sản xuất sữa vừa mua hàng vào đầu tháng 3.2009, giá sữa nguyên liệu đạt chuẩn nhập từ các nhà cung cấp bán cho các tập đoàn toàn cầu vào khoảng 55.000đ/kg (đã có thuế). Trong các chất bổ sung, mắc nhất là DHA khoảng 80USD/kg, calcium khoảng 7 USD/kg, vitamine tổng hợp (6- 10USD/kg)… Tính trên giá thành, mỗi kg sữa có bổ sung tối đa các thành phần theo công thức tốt nhất mà các hãng sữa nêu, thậm chí có bổ sung DHA đến 4-5 lần, thì giá cũng chỉ vào khoảng 70.000đ/kg (bổ sung DHA lên gấp 4 lần, giá chỉ có thể tăng thêm khoảng 4.000đ/kg sữa bột).

Thế nhưng hiện nay người tiêu dùng phải trả từ 143.000 - 165.000đ/kg cho sữa sản xuất trong nước và từ 305.000 - 425.000đ/kg cho sữa nhập khẩu "cao cấp" để mua niềm tin vào sự ảo tưởng bé sẽ khoẻ hơn, sẽ cao hơn, sẽ ít bệnh hơn…

Ông Phạm Ngọc Châu, phó tổng giám đốc công ty Hancofood, chi phí xăng dầu tăng làm đội chi phí một chuyến xe tải chở hàng chỉ khoảng 10%, tức mỗi thùng sữa 24 lon chỉ tăng thêm khoảng 2.000 đồng. Với mức lợi nhuận bình quân là 30%, còn sữa “hiệu”, sữa “cao cấp” lên đến trên 60%, áp lực chi phí tăng giá xăng dầu, bao bì chỉ tác động rất nhỏ đối với nhà sản xuất sữa.

Càng tiếp thị, sữa càng đắt

Có 3 phân khúc thị trường sữa: giá trung bình, giá ở mức khá và giá cao cấp. Ba phân khúc này chia người tiêu dùng thành những nhóm tiêu thụ khác nhau, bao gồm: nhóm trung bình chuyên tiêu dùng các nhãn hiệu như Dutch Lady thường, Nestlé, Dielac, Nuti…; nhóm khá: Friso, Abbott IQ, Enfa thường…; và nhóm thu nhập cao: Friso Gold, Dumex Gold, GainPlus, Enfa Gold A++...

Sự khác biệt giữa dòng sữa trung bình với khá là sữa có tăng cường thêm một số thành phần bổ sung như DHA, ARA, Taurin, Cholin…Dòng sữa cao cấp thể hiện khác với dòng sữa dành cho thu nhập khá ở chữ Gold, ở các A++… với các thành phần bổ sung có nhiều chất hơn, hàm lượng các chất tăng cao hơn.

Về phương diện tiếp thị, ông Trần Hữu Đức, phụ trách đối ngoại công ty Nutifood nhìn nhận: sữa ngoại tạo được nét khác biệt cho sản phẩm để làm PR, tiếp thị mà các hãng sữa Việt Nam chưa có kinh nghiệm. Chẳng hạn các nhãn hiệu sữa ngoại thường tổ chức các quảng cáo, hội thảo khoa học với sự có mặt của các bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ Việt Nam và thế giới, tạo tâm lý tác động đến phụ huynh - người tiêu dùng. Và niềm tin vào sự thông minh của con em khi dùng sữa cao cấp đã thuyết phục các bậc cha mẹ dốc túi chi tiêu, góp phần làm giá sữa tại Việt Nam... cao nhất thế giới.

"Làm giá" sữa từ nhận thức của người tiêu dùng

Sữa ở Việt Nam có giá đắt không chỉ do Việt Nam phải nhập nguyên liệu, và do biến động tỉ giá USD làm tăng giá sữa, mà nguyên nhân chính là thị trường đang bị các nhãn sữa ngoại chiếm thị phần áp đảo. Số liệu từ các công ty nghiên cứu thị trường ước tính, thị trường sữa bột Việt Nam năm 2008 có qui mô khoảng 8.000 tỉ đồng, nhưng trong đó 7.000 tỉ thuộc về các nhãn hiệu ngoại nhập và công ty nước ngoài. Trong 20% thị phần ít ỏi còn lại, Vinamilk chiếm 15%, các nhà sản xuất sữa khác của Việt Nam chiếm 5%. Sữa đang nằm trong nhóm tiêu dùng thiết yếu, lượng tiêu thụ trong giai đoạn sức mua giảm toàn thị trường vẫn đạt tăng trưởng từ 8 - 12% (đo qua kênh siêu thị).

Các nhà kinh doanh sữa ở Việt Nam chưa hề có cuộc cạnh tranh kéo giá xuống để mang lại lợi ích cho người mua. Phân tích kỹ về cách kinh doanh của các hãng sữa, có thể thấy hầu hết đều chạy theo cuộc đua cạnh tranh về thương hiệu bằng cách thêm chất này, chất kia vào sữa để lôi kéo người tiêu dùng chạy theo. Chẳng hạn như sữa D vừa tung ra loại chứa 28 vitamin, sữa N tung ra loại 32 vitamin, và mới đây sữa X tung ra loại 54 vitamin. Tương tự, DHA của hãng M tăng gấp 4 lần, lập tức DHA trong sữa của D tăng đến 5 lần…

Ông Trần Bảo Minh, phó tổng giám đốc công ty Vinamilk phát biểu: "Chiến lược giá của sản phẩm sữa hiện nay không theo công thức giá bán = giá thành sản xuất + chi phí phân phối + chi phí kinh doanh khác…, mà giá sữa được định theo từng nhóm đẳng cấp, các hãng sữa đo nhận thức của người tiêu dùng về thương hiệu để định ra giá bán. Xu hướng chung là sữa càng mắc, càng cao cấp thì càng dễ làm thương hiệu để bán.”

Theo ông Trần Ngọc Dũng, chuyên viên nghiên cứu thị trường của công ty nghiên cứu thị trường FTA, các phân tích và nghiên cứu thói quen tiêu dùng tại Việt Nam trong năm 2007- 2008 cho thấy: các bà mẹ dù thuộc loại thu nhập nào cũng đều có khuynh hướng chọn sữa đắt tiền được quảng cáo có bổ sung nhiều dưỡng chất bổ sung cho con, vì họ tin sữa đắt tiền sẽ giúp con họ thông minh, khỏe mạnh.

Nghiên cứu của FTA chỉ ra rằng, tuy tất cả các nguyên liệu sữa của các nhãn hiệu sữa dành cho trẻ em đang bán ở Việt Nam đều nhập khẩu từ các nguồn New Zealand, Úc, Hà Lan…với thành phần trong sữa gần như nhau, chất lượng thực sự giữa các nhãn hiệu sữa - thông qua thành phần được ghi trên bao bì - gần như tương đương, nhưng khoảng cách giá giữa sản phẩm sữa "cao cấp" với sản phẩm giá thấp cách xa nhau rất nhiều. Chính chất lượng mà người tiêu dùng “cảm nhận” thông qua bao bì, thương hiệu, quảng cáo và giá cả đã góp phần tạo nên khoảng cách lớn đó.
Giá sữa nguyên liệu thế giới ngày càng giảm

Đơn vị: đồng/kg, lấy giá sữa của châu Đại dương (tập đoàn Fonterra)

Thời gian
Tháng 1.2008 Tháng 4.2008 Tháng 7.2008 Tháng 12.2008 Tháng 3.2009
76.824 73.346 73.284 35.274 36.972

(Nguồn: Bloomberg)

B.Thảo

Paul Krugman: Điều tệ nhất có thể đã qua, nhưng hồi phục mất nhiều năm

Paul Krugman, nhà kinh tế đọat giải Nobel năm 2008, mới chỉ có mặt ở Việt Nam hơn 24 tiếng. Ông hầu như chưa nhìn thấy gì nhiều về Việt Nam, ngoài khách sạn Sheraton và phòng họp với gần 500 cử tọa, những người muốn nghe phân tích của ông về viễn cảnh kinh tế thế giới, những thay đổi mà suy thoái kinh tế đem lại cho mô hình tài chính, thương mại toàn cầu, và nhận định về Việt Nam. Krugman thẳng thắn nói rằng, ngay cả trong cuộc gặp đại diện chính phủ vào thứ sáu (22.5), ông sẽ đóng vai trò nhà báo, tìm hiểu tình hình hơn là đưa ra lời khuyên.

Giáo sư Paul Krugman, người đoạt giải Nobel Kinh tế 2008, thuyết trình tại hội thảo quốc tế "Tìm kiếm cơ hội và giải pháp trong khó khăn và khủng hoảng" do bộ Ngoại giao và tổ chức giáo dục PACE tổ chức trong ngày 21.5.2009 tại KS Sheraton, TP.HCM, thu hút trên 500 khán thính giả gồm doanh nhân ,nhà ngoại giao, đại diện lãnh sự các nước Anh, Mỹ, Úc ... (Ảnh: Lê Quang Nhật)

Giai đoạn tồi tệ nhất đã qua

Đánh giá về tình hình kinh tế Mỹ và thế giới, ông Krugman cho rằng giai đoạn tồi tệ nhất đã qua, nhưng hồi phục sẽ dài lâu, có thể mất ít nhất 5 năm. Tin xấu vẫn đầy rẫy, nhưng ít nhất tình hình ít xấu hơn, tốc độ suy giảm của các chỉ số kinh tế cũng chậm lại. Ở Mỹ, số liệu thất nghiệp tuy vẫn rất cao ở mức trên 500 ngàn người trong tháng gần nhất, nhưng đã thấp hơn mức trên 700 ngàn người của tháng trước đó. Những số liệu mới nhất cho thấy kim ngạch xuất khẩu của một số nước, trong đó có Trung Quốc, tăng nhẹ. “Tất cả cho thấy tình hình vẫn đang xấu đi nhưng tốc độ xấu đi đã chậm lại…. Tôi không nghĩlà chúng ta đang đối mặt với cuộc Đại suy thoái lần thứ hai.”

Không có nghĩa là thế giới sẽ chứng kiến một cuộc hồi phục nhanh chóng. Có rất ít dấu hiệu hồi phục, ở Mỹ cũng như những nền kinh tế lớn khác. Thế giới vẫn phải chịu đựng một đợt trì trệ “khổng lồ” từ cuộc khủng hỏang tài chính bắt đầu từ Mỹ. Ông Krugman cảnh báo về khả năng nước Mỹ đối mặt với tình trạng “một thập niên bị đánh mất của Nhật.” Nền kinh tế Nhật, sau khủng hoảng đầu thập niên 80, phải chịu đựng khoảng 10 năm gần như không có tăng trưởng. Hiện nay, tỷ lệ tiết kiệm của người Mỹ bắt đầu tăng. “Mọi người đều muốn tiêu ít hơn và dành dụm nhiều hơn” ông nói. Mặt trái của tình hình này là thiếu chi tiêu và đầu tư, thế giới sẽ tiếp tục trì trệ và không có lối thoát. Ông Krugman bày tỏ lo lắng về giảm phát nhiều hơn là lạm phát ở nước Mỹ. Lý do là ngân hàng đang dự trữ rất nhiều và không cho vay được. Tiền đang ngồi một chỗ, một phần vì thế giới vẫn đang thừa công suất, trong khi ít chi tiêu hơn, nên không có nhu cầu đầu tư hơn vào thời điểm này. Ông cho rằng giá trị đồng đô la Mỹ chắc chắn sẽ giảm khi tình hình kinh tế khả quan hơn, nhưng nước Mỹ cũng vẫn sẽ đối mặt với trì trệ, và điều này sẽ ảnh hưởng đến cả thế giới.

Thay đổi

Ông Krugman cho rằng đây là lúc những nước quá lệ thuộc vào thặng dư mậu dịch như Trung Quốc phải đẩy mạnh phát triển thị trường nội địa. Trung Quốc đã ghìm giá đồng nhân dân tệ từ lâu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Nước Mỹ, hàng năm thường tìm ra những nước cố tình điều khiển tiền tệ để áp dụng các biện pháp cấm vận, đã không dám làm thế với Trung Quốc vì ngại chiến tranh thương mại. Nhưng Krugman nói thẳng rằng, điều này không thể tiếp diễn mãi được

Giáo sư Paul Krugman, người đoạt giải Nobel Kinh tế 2008.(Ảnh: Lê Quang Nhật)

Tuy vậy, Krugman tiếp tục ủng hộ tự do mậu dịch và toàn cầu hóa. Ông cho rằng xuất khẩu đã giúp các nước đang phát triển như Việt Nam và tiếp tục là sự lựa chọn tốt nhất. “Điều không còn dễ dàng tồn tại là thặng dư xuất khẩu quá lớn. Ngòai ra không có lý do nào để tin rằng mô hình xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng không còn ứng dụng được nữa.”

Krugman nhấn mạnh một trong những quan điểm chính mà ông liên tục đưa ra trong các bài báo của mình: Lĩnh vực tài chính cần phải được kiểm soát chặt chẽ hơn rất nhiều, để tránh những thảm họa như đã xảy ra với cuộc khủng hoảng tài chính vừa rồi. “Bất cứ những gì phải giải cứu trong giai đoạn khủng hoảng đều cần phải được điều chỉnh,” ông nói. Tình trạng đòn bẩy quá đà đặt ra yêu cầu phải có những quy định cụ thể về vốn. Các ngân hàng truyền thống không nên được phép tham gia vào quá nhiều loại kinh doanh khác nhau khó kiểm soát. Ngoài ra, việc điều chỉnh trong lĩnh vực tài chính phải được quốc tế hóa để tránh tình trạng giống như “thiên đàng thuế” ở Cayman, Virgin Islands… khi các công ty đổ xô đăng ký ở những nơi họ không bị kiểm soát.

Krugman cho biết ông hoàn toàn không có ý cho rằng mọi lĩnh vực kinh doanh phải được điều chỉnh giống như mô hình “kế hoạch hóa tập trung” của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Ông cho rằng nhu cầu điều chỉnh chủ yếu nhắm vào lĩnh vực tài chính, là lĩnh vực hết sức trọng yếu đối với sức khỏe của nền kinh tế.

Việt Nam

Không ít câu hỏi được đặt ra cho ông Krugman về khả năng lạm phát của Việt Nam nếu chính phủ bị sức ép kích cầu và in tiền quá nhiều. Ông Krugman nói ngay rằng in tiền không phải là giải pháp. Ông cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể chọn giải pháp vay, nhất là trong khi dự trữ tiền trên thế giới đang tăng như hiện nay. “Không nhất thiết phải in tiền, mà có thể vay tiền và sử dụng tiền vay một cách hiệu quả.” Ông cho rằng Mỹ đang vay nợ quá nhiều nên không có chỗ để sử dụng lựa chọn này. Nhưng khi biết rằng thâm hụt ngân sách của Việt Nam đang khá lớn, ông thừa nhận rằng như vậy Việt Nam không có nhiều lựa chọn lắm. “Không có câu trả lời dễ dàng cho tình huống này.”

Lan Anh

Quốc hội, bauxite Tây Nguyên và lòng dân

Công trường bauxite Tân Rai, Lâm Đồng. Ảnh: Trần Đức Tài

SGTT - Không rõ, chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, ông Trần Đình Đàn, dựa trên cơ sở nào để nói rằng: “Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bauxite”. Ở thời điểm ông Đàn tuyên bố, 18.5.2009, Quốc hội vẫn chưa khai mạc, Chính phủ chưa báo cáo và các đại biểu chưa thảo luận. Hơn hai tuần trước, ngày 4.5, khi tiếp xúc cử tri tại phường Giảng Võ, chủ tịch Nguyễn Phú Trọng cũng nói, Chính phủ sẽ dành “một phần trong Báo cáo về kinh tế xã hội” để đánh giá về bauxite. Để rồi, chiều 14.5, khi “Kết luận phiên họp UBTVQH” ông đã phải yêu cầu Chính phủ “chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên”.

Như vậy, mặc dù Thủ tướng đã giao cho một số bộ, ngành đưa “bauxite Tây Nguyên” vào báo cáo chung. Và, khi nói với cử tri, có thể cá nhân chủ tịch Quốc hội cũng ủng hộ Thủ tướng cách làm này. Nhưng, ông vẫn phải kết luận như trên sau khi “một số đoàn đại biểu và các cơ quan của Quốc hội muốn có một báo cáo riêng về bauxite”.

Khác với những cơ quan nhà nước khác, “Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số” (điều 4, luật Tổ chức Quốc hội). Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội và ngay cả chủ tịch Quốc hội cũng chỉ có mỗi người một phiếu và không ai có thể phát ngôn thay cho 493 đại biểu của dân. Trước đây, chủ tịch Nông Đức Mạnh đã thể hiện vai trò này một cách thành công khi ông, thay vì “kết luận” các phiên họp của uỷ ban Thường vụ hay của Quốc hội, đã tóm tắt các ý kiến thảo luận rồi “xin ý kiến”.

Trong bộ máy Nhà nước, có những thiết chế cần những cá nhân quyết đoán để ra mệnh lệnh, có những thiết chế cần sự dẫn dắt để ý kiến đa số có điều kiện hình thành. Cũng là một con người nhưng khi nhận lãnh “vai” nào thì phải hành xử đúng như những quy định về “vai” ấy đã được ghi trong Hiến pháp.

Có lẽ, vì Quốc hội có hơn 90% đảng viên nên ông Trần Đình Đàn tin “chắc chắn là Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ” sau khi nhấn mạnh khai thác bauxite đã thành “chủ trương của Đảng” và có “kết luận của bộ Chính trị”. Chưa nói về nguyên tắc “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện làm thay”, cách hiểu “Kết luận của bộ Chính trị” của một số tổ chức và cá nhân thời gian qua cho thấy cũng rất cần “quán triệt”.

“Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bauxite”. Ở thời điểm ông Đàn, chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, tuyên bố, 18.5.2009, Quốc hội vẫn chưa khai mạc, Chính phủ chưa báo cáo và các đại biểu chưa thảo luận

Bộ Chính trị nhấn mạnh “chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết” vì có rất nhiều lao động phổ thông Trung Quốc xuất hiện trên công trình Tân Rai. Bộ Chính trị yêu cầu “lựa chọn công nghệ hiện đại” vì có nhiều băn khoăn về loại công nghệ đang được đưa vào Tây Nguyên; vì, nói là “thí điểm” mà cả hai dự án Nhân Cơ và Tân Rai đều chỉ sử dụng một nhà thầu là tập đoàn Chalco của Trung Quốc với cùng công nghệ.

Bộ Chính trị kết luận: “Riêng dự án Nhân Cơ, phải rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường” là để khẳng định: “Nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện”, chứ không phải là đương nhiên triển khai thực hiện. Khi bộ Chính trị yêu cầu: “Ban cán sự Đảng Chính phủ chuẩn bị báo cáo với ban Chấp hành Trung ương và chỉ đạo việc chuẩn bị báo cáo Quốc hội”, là không chỉ muốn cung cấp thông tin mà còn đòi hỏi các cơ quan này phải phát huy vai trò kiểm tra, giám sát.

Trong buổi tiếp xúc cử tri hôm 4.5, chủ tịch Quốc hội cũng thừa nhận, “không chỉ cử tri Hà Nội mà trong chuyến đi công tác nước ngoài vừa qua, rất nhiều kiều bào cũng quan tâm đến việc Quốc hội phải giám sát dự án bauxite Tây Nguyên”. Không riêng Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng nghe được đòi hỏi ấy của người dân Việt Nam, các đại biểu Quốc hội về Hà Nội trong kỳ họp này chắc chắn cũng đã được cử tri của mình gửi gắm. Với những chủ trương liên quan không những tới môi trường mà còn là “an ninh quốc gia” như khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì vấn đề không chỉ là “quy mô, tầm cỡ của dự án” ở mức một tỉ hay “600 triệu đô la” mà là “lòng dân” mới là yếu tố quan trọng nhất để Quốc hội đặt lên bàn nghị sự.

Huy Đức