Chân Tịnh Ý biên tập - tháng Ba 2007
Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 23 tháng 2 năm 2007, tại chùa Vĩnh Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh.
Audio MP3 : Phần 1 (12.7MB) | Phần 2 (9.7MB)
Kính thưa đại chúng,
Hôm nay là ngày 23 tháng 2 năm 2007. Chúng ta đang ở tại chùa Vĩnh Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh. Hôm nay tôi muốn nói về đề tài Tình thương.
Phẩm vật quí nhất cho người thương
Khi chúng ta thương yêu một người nào, thì phẩm vật quí nhất mà mình có thể hiến tặng cho người đó, là sự có mặt của mình. Làm sao có thể thương yêu nếu chúng ta không có mặt, khi chúng ta quá bận rộn, chúng ta tiếp tục lo lắng về tương lai, cứ nghĩ tới những dự án trong tương lai. Nếu chúng ta không có thì giờ cho chính mình thì làm sao chúng ta có thể có thì giờ cho người ta thương yêu.
Tôi biết có một cậu bé mười hai tuổi con của một doanh thương rất giàu có. Nhà doanh thương này có thể mua cho đứa con trai của mình bất cứ một món quà nào mà nó muốn, đắt bao nhiêu cũng được, tại vì ông quá giàu. Nhưng ông không thể hiến tặng cho con sự có mặt của ông, bởi ông luôn vắng nhà. Doanh nghiệp của ông rất lớn và nó chiếm hết thì giờ của ông ta. Vì vậy ông ta không còn thì giờ cho vợ con. Ông ta cũng không có thì giờ cho chính bản thân ông ta nữa, ông ta bị cuốn vào trong công việc của doanh nghiệp. Ông chỉ nghĩ làm thế nào để cho doanh nghiệp của mình thành công. Có thể nói rằng ông cũng thương vợ thương con, nhưng ông chỉ có thể cho người thương của mình tiền bạc thôi, mà tiền bạc thì không đủ cho người ta có hạnh phúc. Chính sự có mặt của mình mới là cái mà người thương của mình cần đến.
Một hôm nhà doanh thương nói với cậu con trai : Này con, ngày mai có phải là ngày sinh nhật của con ? Con muốn gì bố sẽ mua tặng con, muốn gì cũng được, con đừng lo vấn đề tiền. Cậu con trai không biết trả lời ra sao vì cậu không cần gì hết, cái gì cậu cũng có đủ rồi, cậu không thiếu gì cả, cậu chỉ thiếu một điều, đó là sự có mặt của bố .Cậu bé cảm thấy cái mình thật sự muốn là sự có mặt của bố. Tại vì khi thương ai thì mình phải hiến tặng cho người thương của mình sự có mặt của mình. Sau mấy giây suy nghĩ, cậu con trai nói bố ơi cái mà con muốn nhất là sự có mặt của bố.
Nhưng liệu người bố có thể hiến tặng được sự có mặt của ông cho người con trai không? Tại vì doanh nghiệp nó như nhà độc tài, chiếm hết một trăm phần trăm thì giờ của ông. Nhà doanh thương không còn thì giờ để lo lắng, chăm sóc cho chinh bản thân thì làm sao để có thì giờ lo lắng và chăm sóc cho những người thương của ông được? Cho nên suy nghĩ lại thì chúng ta thấy rằng: tặng phẩm quí hóa nhất mà mình có thể dâng hiến cho người thương của mình không phải là tiền bạc mà là sự có mặt của mình. Khi mình có một người yêu mà mình không có mặt cho người yêu của mình, thì người yêu của mình sẽ đau khổ. Khi mình được yêu thương thì mình muốn sự có mặt của người mà mình yêu thương. Nếu người đó bận rộn quá thì mình có cảm tưởng là mình không được yêu thương. Do đó yêu thương là hiến tặng sự có mặt của mình cho người thương của mình. Nếu mình yêu thương mẹ mình, thì mình phải tìm cách để có mặt cho mẹ mình. Mình có thể tới với mẹ, ngồi bên mẹ, nhìn vào mắt mẹ và mình có thể nói một câu: mẹ ơi, mẹ có biết là con đang có mặt cho mẹ hay không?
Mẹ ơi, mẹ có biết là con thương mẹ không?
Năm 1962, trong khi tôi đang tại đại học Princeton tôi có sáng tác đoản văn Bông Hồng Cài Áo nói về tình mẹ. Tôi có đưa ra một bài thực tập. Nếu anh hay chị bận rộn quá thì anh chị không hưởng được sự ngọt ngào tươi mát của mẹ. Vì vậy tôi hiến tặng anh hay chị một bài thực tập là chiều nay đi học, hoặc đi làm về thì anh hoặc chị đi vào phòng của mẹ. Có thể mẹ đang may vá, thêu thùa hay đang nấu nướng. Anh hoặc chị sẽ để bàn tay của mình trên bàn tay mẹ để cho mẹ chú ý. Lúc đó anh chị có thể ngồi bên cạnh mẹ, nhìn vào mắt mẹ và hỏi mẹ một câu: Mẹ ơi, mẹ có biết là con thương mẹ không? Mẹ có biết là con đang có mặt cho mẹ hay không?.
Đây là bài tập mà tất cả chúng ta đều có thể làm được. Đó là hiến tặng sự có mặt của mình cho người thương của mình. Nếu ông thương yêu bà mà ông không có mặt cho bà, thì tình thương đó nó không cụ thể. Nếu bà bận rộn quá, bà không có thì giờ cho ông, bà không có mặt tươi mát nhẹ nhàng và hạnh phúc của mình cho ông, thì bà thật sự chưa có gì quý hóa để hiến tặng cho ông cả. Người cha đối với người con cũng vậy, người con đối với cha cũng vậy, người mẹ đối với người con và người con đối với mẹ cũng vậy. Khi thương yêu chúng ta phải làm thế nào để hiến tặng sự có mặt của mình cho người thương của chúng ta.
Trong đạo Phật có danh từ Niệm. Chữ Niệm đây nếu mình dịch cho khéo thì mình có thể sử dụng được chữ có mặt. Niệm tức là có mặt. Khi mình niệm Phật tức là mình có mặt cho Phật. Khi mình niệm hơi thở tức là mình có mặt cho hơi thở, niệm có nghĩa là ý thức về cái gì đang xảy ra. Khi mình thở vào và ý thức được là mình đang thở vào, cái đó gọi là niệm hơi thở. Danh từ chuyên môn gọi là an ban thủ ý. An ban thủ ý tức là để ý tới hơi thở. Khi mình thở ra mà mình biết rằng mình đang thở ra thì cái tâm của mình đang có mặt cho hơi thở. Niệm hơi thở tức là để ý tới hơi thở vào, để ý tới hơi thở ra, có mặt cho hơi thở vào, có mặt cho hơi thở ra. Khi mình thở một hơi và mình trở về với hình hài của mình, thì mình có mặt cho hình hài của mình. Trong hình hài có thể có sự căng thẳng, đau nhức và khi mình đem tâm của mình trở về với thân của mình thì mình ý thức được rằng có sự căng thẳng, đau nhức ở trong cơ thể của mình. Lúc đó mình có thể thực tập theo lời đức Thế Tôn dạy: thở vào tôi buông thư toàn thân, thở ra tôi làm cho toàn thân lắng dịu. Danh từ trong kinh là an tịnh thân hành. An tịnh thân hành tức là làm cho thân hình của mình, hình hài của mình buông thư, lắng dịu trở lại. Trong khi mình thực tập hơi thở vào và hơi thở ra thì mình làm cho buông thư tất cả những bắp thịt trong toàn thân, mình lấy đi sự căng thẳng ở trong cơ thể của mình. Sự căng thẳng là nguyên nhân đưa tới nhiều bệnh tật. Và sự thực tập này trong kinh gọi là niệm thân. Niệm thân tức là trở về để có mặt cho thân thể. Thân thể mình có những đau nhức và những căng thẳng. Mình trở về cơ thể để giúp cho cơ thể buông bỏ những đau nhức và những căng thẳng đó. Có một kinh mà đức Thế Tôn dạy gọi là Thân hành niệm. Thân hành niệm tức là đem cái tâm trở về để có mặt cho cái thân, để quán chiếu cái thân của mình. Trong kinh này đức Thế Tôn dạy chúng ta trước hết là đem cái tâm về để nhận diện hơi thở vào và hơi thở ra. Tôi đang thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào. Tôi đang thở vào và ý thức được toàn thân của tôi. Tôi đang thở ra và cho toàn thân của tôi lắng dịu trở lại.
Những bài tập như vậy chúng ta có thể tìm thấy ở trong kinh An ban thủ ý tức là kinh đức Thế Tôn dạy về phương pháp quán niệm hơi thở. Quán niệm hơi thở tức là dùng cái tâm đi đôi với hơi thở để trở về với thân và về với tâm. Trong thân mình có thể có sự đau nhức, có sự căng thẳng, trong tâm mình có thể có sự lo lắng buồn khổ tuyệt vọng. Mình phải trở về để chăm sóc cho thân và cho tâm, có mặt cho thân và cho tâm.
Đức Thế Tôn dạy rằng nếu chúng ta không có khả năng thương yêu và chăm sóc cho bản thân mình thì làm sao chúng ta có khả năng thương yêu và chăm sóc cho một người khác? Vì vậy trở về có mặt cho bản thân là rất quan trọng. Trong khi mình đi, đứng, nằm, ngồi, lái xe, rửa rau, nấu cơm, giặt áo... mình làm thế nào đem tâm trở về với thân để chăm sóc cho thân, để nhận diện được những buồn khổ những lo âu, những sợ hãi trong lòng mà chuyển hóa, thì cái đó là có mặt cho bản thân. Thương mình, thương lấy cái bản thân của mình. Khi mình đã có thể chăm sóc và thương yêu bản thân của mình rồi thì lúc đó mình mới thật sự có khả năng chăm sóc và lo lắng cho một người khác. Người đó có thể là người yêu của mình, người đó có thể là bố hay mẹ mình hay là con trai, con gái của mình.
Nghệ thuật của sự thương yêu chăm sóc là sự có mặt. Nếu nhà doanh thương đó mà hiều được, thì nhà doanh thương đó sẽ thở vào một hơi, thở ra một hơi, buông bỏ tất cả những suy tư, những tính toán lo lắng của ông ta về doanh nghiệp. Trở về với hơi thở, tôi đang thở vào và biết rằng tôi đang có mặt ở đây, tôi đang thở ra và biết rằng đứa con trai của tôi nó đang thiếu sự có mặt của tôi. Thực tập như vậy trong một hai phút thì người cha có thể có mặt đó và đem sự có mặt của mình để hiến tặng cho đứa con trai. Người cha có thể nhìn vào trong hai mắt của con mình và nói: Con ơi, con có biết là bố đang có mặt cho con đây không? Đó là sự thương yêu . Đó là món quà quý nhất mà mình có thể đem hiến tặng cho người thương của mình.
Nếu quý vị thật sự muốn thương yêu thì quý vị phải đi theo con đường của đức Thế Tôn giảng dạy về thương yêu: hãy trở về có mặt và chăm sóc cho cái thân của mình và cho cái tâm của mình. Mình đã đày đọa cái thân mình quá nhiều, mình đã đày đọa cái tâm của mình quá nhiều. Mình chưa học được phương pháp trở về để chăm sóc lo lắng cho thân và tâm. Quý vị đã nắm vững được phương pháp ngồi yên hay chưa? Quý vị đã nắm vững được phương pháp nằm buông thư hay chưa? Quý vị có nắm vững được phương pháp thực tập thở vào làm cho thân tỉnh lặng, thở ra nở một nụ cười để buông thư tất cả những bắp thịt trong cơ thể chưa? Quý vị có khả năng bước đi những bước ung dung, thảnh thơi an lạc mà không có nghĩ tới quá khứ hay tương lai không? Nếu quý vị chưa làm được những chuyện đó thì quý vị phải bắt đầu đi thôi, tại vì đó là những trông chờ đầu tiên của đức Như Lai, thầy của chúng ta. Đức Thế Tôn muốn chúng ta trở về chăm sóc cho cái thân mình cho nên ngài đã nói kinh niệm thân. Đức Thế Tôn muốn cho chúng ta trở về chăm sóc cho cái tâm của mình cho nên ngài mới dạy kinh niệm hơi thở. Và phương pháp của Đức Thế Tôn là một phương pháp rất khoa học, nếu đem áp dụng trong vòng vài ngày là đã thấy có sự thay đổi trong đời sống của mình.
Chiều nay hoặc sáng mai mình có thể đem phương pháp này ra thực tập. Mình có một người thương. Người thương đó, có thể là bố hoặc mẹ của mình, có thể là con trai hay con gái của mình, có thể là người yêu chưa cưới hoặc là vợ mình hay là chồng mình. Mình hãy để ra một phút hai phút để tập thở, đưa cái tâm về có mặt cho cái thân. Lúc đó thân được buông thư, tâm được thư thái, mình mới đi tới gần người thương, nhìn vào đôi mắt người thương và nói một câu. Nếu người đó là mẹ, thì mình sẽ nói: mẹ ơi, má ơi, má có biết là con đang có mặt cho má không, má còn sống đó, con ý thức được điều đó và con rất hạnh phúc. Má đang còn sống với con và điều này làm cho con có hạnh phúc rất nhiều.
Đây là những câu nói đơn sơ, nhưng nếu chúng ta có niệm lực thì có thể biến những câu đó thành những câu thần chú, những câu linh chú, có một tác dụng chuyển hóa vô cùng lớn lao.
Bốn câu “linh chú” cho người thương:
Câu linh chú thứ nhất mà mình có thể sử dụng được, tôi đã nói rồi: Em ơi, em có biết rằng anh đang có mặt cho em đây không? Con ơi, con có biết là bố đang có mặt cho con đây không? Anh ơi, anh có biết là em đang có mặt cho anh đây không? Mẹ ơi, mẹ có biết là con đang có mặt cho mẹ đây không? Đó là sự tỏ tình, đó là sự hiến tặng sự có mặt tươi mát nhẹ nhàng, êm dịu của mình cho người mình thương yêu. Và cái đó mình không thể nào mua được ở siêu thị. Sự có mặt tươi mát và ngọt ngào của mình, mình phải tự chế tác ra chứ không thể nào đi siêu thị mà mua về được, dầu mình có nhiều tiền. Và với phương pháp quán niệm hơi thở, đem tâm trở về với thân, mình có thể tạo ra sự buông thư tươi mát đó và hiến tặng cho người thương của mình.
Đó là câu linh chú thứ nhất. Nếu quý vị có niệm và có định thì câu thần chú đó sẽ tạo ra hạnh phúc cho người thương ngay trong giây lát, ngay lập tức.
Câu linh chú thứ hai là: Con biết là mẹ đang còn sống đó với con và điều này làm cho con rất là hạnh phúc. Anh biết là em đang có mặt đó cho anh và anh rất trân quý sự có mặt của em. Con biết là cha đang còn sống với con và điều này làm con vô cùngsung sướng. Đó là câu linh chú thứ hai, và câu linh chú thứ hai này mình cũng có thể thực tập được, nếu mình có một ít năng lượng của niệm và định. Niệm tức là đem thân về có mặt cho tâm, định tức là không có suy nghĩ lung tung, không suy nghĩ tới quá khứ, tương lai mà tập trung vào giây phút hiện tại. Trong giây phút hiện tại, mình biết rằng người thương của mình đang có mặt đó, mình muốn thừa hưởng sự có mặt của người thương và mình muốn hiến tặng sự có mặt tươi mát ngọt ngào của mình cho người thương mình. Đó là hai câu linh chú mà bất cứ một người nào trong chúng ta cũng có thể thực tập được. Khi chúng ta có niệm và định nhiều thì hai câu linh chú đó sẽ có năng lượng vô song, có thể đem lại hạnh phúc ngay trong giây phút đó cho chính bản thân và cho người mình thương. Câu linh chú thứ nhất dịch ra tiếng Anh, (tại vì ở Tây phương chúng tôi thường hướng dẫn tu học cho người Tây phương dùng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức nhiều hơn là tiếng Việt) Darling, I am here for you, nó có nghĩa là em ơi ,anh đang có mặt cho em đây, anh ơi em đang có mặt cho em đây. Câu linh chú thứ hai tiếng Anh là Darling, I know are you there and I am very happy. Người thương ơi ,tôi biết rằng anh đang có mặt đó, đang còn sống với tôi, vì vậy tôi rất hạnh phúc.
Thương yêu nghĩa là công nhận sự có mặt của người mình thương. Có thể là ông đang lái xe và bà ngồi một bên ông, nhưng cái đầu ông suy nghĩ lung tung, ông nghĩ đến quá khứ, đến tương lai, đến doanh nghiệp, đến sự thành công của ông và ông hoàn toàn quên lảng bà. Ông niệm doanh nghiệp, ông niệm tương lai, ông niệm quá khứ mà ông không niệm bà. Ông không để ý tới bà và như vậy ông loại bà ra khỏi vùng chú ý của ông, chú ý tức là niệm. Khi mình niệm Phật tức là mình đưa Phật vào trong vùng chú ý của mình. Khi mình nghĩ tới người thương tức là đưa người thương vào trong vùng chú ý của mình. Và nếu mình loại người thương ra khỏi vùng chú ý của mình thì người thương sẽ chết dần chết mòn, vì người đó không được nuôi dưỡng bởi tình thương của mình. Tình thương đó phải được biểu hiện một cách cụ thể, đó là sự có mặt của mình cho người đó. Nếu ông giác ngộ, thì ông sẽ chấm dứt những suy nghĩ của ông về quá khứ, về tương lai. Ông sẽ nói với bà : em ơi, anh biết là em đang ngồi bên anh và anh rất hạnh phúc.
Câu linh chú thứ ba là mình sử dụng, khi người thương của mình có vấn đề, có khó khăn, có đau khổ, có lo lắng. Nếu mình thương yêu đích thực thì mình có mặt cho người đó và khi mình thật sự có mặt cho người đó thì mình biết rằng người đó đang có những khó khăn, đang có những đau khổ, đang có những lo lắng và mình sử dụng câu thần chú thứ ba. Em ơi anh biết rằng là em đang có những nỗi khổ niềm đau, vì vậy cho nên anh đang có mặt bên em để hổ trợ cho em đây. Câu này quý vị có thể áp dụng được liền, tại vì người thương của mình có thể là mẹ, có thể là cha, có thể là thầy, có thể là đệ tử, có thể là anh, có thể là chị, có thể là con mình. Và khi đứa con mình có những khó khăn, những đau khổ thì mình là cha, mình là mẹ, mình có thể thực tập câu linh chú này với đứa con: con ơi, ba biết con đang có những khó khăn, những đau khổ cho nên ba tới ngồi với con đây để yểm trợ cho con. Đó là câu thần chú thứ ba. Ông hãy thực tập với con trai của ông đi, bà hãy thực tập với con gái bà đi rồi ông bà sẽ thấy rằng câu thần chú này nó nối liền sự liên lạc giữa ông với con trai, ông với con gái, bà với con trai, bà với con gái. Tại vì ông ưu ái, ông để ý tới người thương của ông, con của ông. Vì lưu ý cho nên ông biết rằng con trai của ông, con gái của ông đang có những khó khăn. Bà cũng vậy, mỗi khi bà thấy ông trầm tư, bà thấy ông đang bị kẹt trong những khổ đau, đang bị kẹt trong những khó khăn, bức xúc, bà có thể tới gần bên ông và đọc câu thần chú thứ ba: anh ơi em biết rằng anh đang có những cái khó khăn, những cái khổ đau, những bức xúc. Vì vậy cho nên em đang có mặt cho anh đây. Đó là câu thần chú thứ ba mà tất cả chúng ta đều có thể thực tập được. Hàng ngàn, hàng chục ngàn thiền sinh Tây Phương đã và đang thực tập câu linh chú đó và đem lại hạnh phúc trong đời sống hàng ngày của họ, đem sự chú ý trở về với thân tâm, đem sự chú ý trở về để ôm ấp lấy người thương của mình.
Và câu linh chú thứ tư, khó thực tập hơn một chút nhưng mà nó có thể tháo gỡ được cho mình trong những trường hợp nguy hiểm. Câu thần chú thứ tư mình chỉ áp dụng khi nào mình đau khổ nhiều quá và mình tin rằng cái đau khổ đó là do người thương của mình gây ra. Nếu một người khác nói hoặc làm điều đó thì mình chỉ khổ ít thôi. Nhưng vì người nói câu đó, làm điều đó lại là người mình thương nhất trên đời, cho nên mình đau khổ vô cùng và mình không muốn sống nữa. Trong trường hợp này mình có thể sử dụng câu thần chú thứ tư.
Chắc quý vị còn nhớ câu chuyện thiếu phụ Nam Xương vợ chàng Trương. Khi chàng Trương đi lính về thì người thiếu phụ đem đứa con ra cổng làng đón chồng. Họ mừng mừng tủi tủi, tại vì người chiến sĩ được sống sót trở về. Theo tục lệ Việt Nam là phải cáo với tổ tiên cái tin mừng này,vì vậy người thiếu phụ Nam Xương đi ra chợ để mua sắm về làm một mâm cỗ để cúng tổ tiên. Trong khi đó chàng Trương ở nhà tìm cách làm quen với đứa con trai của mình vì đứa con trai đó sinh ra trong thời gian chàng vắng mặt. Chàng Trương thuyết phục đứa con gọi chàng ta là bố, nhưng đứa bé không chịu. Nó nói, ông đâu phải là bố tôi, bố tôi là một người khác. Bố tôi thường tới mỗi đêm và mỗi khi bố tôi tới, thì mẹ tôi nói chuyện với bố tôi cả giờ đồng hồ, mẹ tôi lại khóc với bố tôi. Mỗi khi bố tôi ngồi xuống thì mẹ tôi cũng ngồi xuống và bố tôi nằm xuống thì mẹ tôi cũng nằm xuống. Nghe đứa bé nói như vậy, chàng Trương đau khổ vô cùng. Chàng Trương nghĩ rằng trong khi chàng vắng mặt đã có một người đàn ông khác xen vào gia đình mình. Từ đó chàng Trương trở thành một cục nước đá , không cười không nói nữa.
Người vợ đi chợ về anh ta không thèm nhìn vợ, anh ta không nói chuyện với vợ, anh ta không trả lời những câu hỏi của vợ. Anh tin chắc rằng người vợ đã ngoại tình trong khi anh đi vắng.
Chúng ta đều biết rằng sự thật không phải như vậy. Sự thật là trong khi anh chàng đi vắng không có người đàn ông nào tới hết. Có một hôm đứa bé đi vào trong xóm chơi, về nói như thế này: Mẹ ơi, tại sao đứa nào trong xóm cũng có bố mà riêng một mình con không có bố. Thiếu phụ Nam Xương mới chỉ cái bóng của mình ở trên tường do chiếc đèn dầu phóng lên và nói rằng, đây là bố của con đây. Chỉ vào bóng mình ở trên tường, con cúi đầu thưa bố đi. Đứa bé tưởng cái bóng đó là bố của nó. Cố nhiên là thiếu phụ Nam Xương rất là thương nhớ chồng. Mỗi khi có cái bóng đó, thì nàng nói chuyện với bóng: anh ơi anh đi lâu quá, một mình em ở nhà làm sao em có thể nuôi con được, anh tìm cách để về sớm sớm nghe anh.
Thiếu phụ Nam Xương khóc. Thật ra không có một người đàn ông nào khác. Đứa bé nói, bố tôi mỗi đêm tới là nó nói cái bóng của mẹ nó ở trên tường. Chàng Trương đã có tri giác sai lầm và vì vậy cho nên khi người vợ đi chợ về thì anh ta không nhìn vợ nữa, anh ta không nói chuyện với người vợ nữa và anh ta cũng không trả lời những câu hỏi của vợ. Anh ta đau khổ và người vợ cũng đau khổ lắm. Một giờ đồng hồ trước thì hai người vồn vã khóc lóc, mừng mừng, tủi tủi. Bây giờ tình cảnh đã hoàn toàn khác. Sau khi mâm cỗ đặt lên bàn thờ, chàng Trương đốt hương khấn vái lạy xong và cuốn chiếu không cho vợ lạy trước bàn thờ tổ tiên, vì nghĩ rằng vợ mình đã ngoại tình, không xứng đáng để lạy trước bàn thờ tổ tiên. Cúng xong, đáng lẽ anh sẽ ăn cơm cùng gia đình, thì trái lại anh chàng ra quán rượu và ở suốt ngày suốt đêm ở ngoài quán, cố gắng tìm quên nỗi sầu đau tuyệt vọng của mình bằng rượu trong nhiều ngày, cuối cùng thiếu phụ Nam Xương chịu đựng không nỗi nữa và cô ta đã nhảy xuống sông tự tử.
Khi nghe tin vợ chết, chàng Trương mới trở về. Đêm hôm đó, đốt đèn lên thì đứa bé nói rằng: Này ông, này ông, bố tôi đây và nó chỉ cái bong của bố nó trên tường. Lúc đó nỗi oan của thiếu phụ Nam Xương mới được tỏ ra nhưng bây giờ thì đã muộn . Trong trường hợp đó, nếu thiếu phụ Nam Xương hoặc chàng Trương thực tập câu linh chú thứ tư thì đã có thể cứu vãn được tình trạng.
Thực tập như thế nào, câu thần chú đó như thế nào? Anh ơi, em đau khổ quá, anh phải giúp em mới được. Tại sao từ khi em đi chợ về cho đến bây giờ anh không có nhìn em. Mỗi khi em hỏi một câu gì anh không có trả lời, em đã làm gì để bị anh đối xử một cách tàn tệ như vậy, anh giúp cho em đi. Đó là câu thần chú thứ tư Anh ơi, em đau khổ quá, anh giúp em đi, anh giải thích tại sao anh đã làm, anh đã đối xử như vậy với em? Hoặc là chàng Trương cũng có thể thực tập như vậy. Chàng Trương tới với thiếu phụ Nam Xương và chàng đọc câu thần chú đó: Em ơi anh rất đau khổ, anh đau khổ cực kỳ anh muốn chết, em phải giúp anh mới được, em phải giải thích cho anh biết, người đàn ông mà thường tới mỗi đêm trong khi anh vắng mặt là người nào? Nếu em không giải thích được thì anh sẽ chết.
Câu thần chú đó có nghĩa là mình nói cho người mình thương biết là mình đang đau khổ và mình cần sự yểm trợ của người thương của mình. Khi mình đau khổ và tin rằng nỗi khổ niềm đau của mình là do người thương yêu nhất của mình tạo ra, thì mình có khuynh hướng tự ái, mình không muốn người đó tới giúp mình. Thà rằng khóa cửa lại, khóc một mình hoặc là đi tự tử chứ mình không muốn người đó giúp mình. Đó là một sự dại dột rất lớn. Đó là sự dại dột của thiếu phụ Nam Xương, đó là sự dại dột của chàng Trương. Vì vậy cho nên nếu chúng ta học được bài học này, thì chúng ta sẽ biết sử dụng câu linh chú thứ tư để mà tránh đi bi kịch có thể xảy ra cho gia đình.
Câu linh chú thứ tư tôi xin nhắc lại: anh ơi em đau khổ quá, anh phải giúp em, anh phải giải thích cho em biết tại sao anh đã nói cái câu đó, tại sao anh đã làm cái điều đó, anh phải giúp em nếu không chắc em chết. Đó là câu linh chú thứ tư. Hoặc là em ơi, anh đang đau khổ cực kỳ anh không hiểu tại sao em đã nói câu đó em đã có cái hành động như vậy, nếu em không giải thích được chắc là anh chết, em phải giúp anh, đó là câu linh chú thứ tư. Và câu linh chú này có thể cứu được cả hai người trong cái trường hợp rất là khắc khe như trường hợp của thiếu phụ Nam Xương. Bây giờ chúng ta nghe một tiếng chuông, thở cho khỏe rồi tôi xin nói tiếp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét